Zumaia – vùng đất của những bánh răng thời gian

Du Lịch

shutterstock_721557148

shutterstock_150597614
Zumaia là một ngôi làng chân chất, thiên nhiên thì trù phú nhưng số người sống lại khá thưa thớt.

Những ngày tôi ở xứ Basque, lúc nào trời cũng mưa âm ỉ. Sáng đi Zumaia cũng không phải ngoại lệ, đến biển vào những ngày mưa thật dễ khiến người ta nản lòng. Đoàn tàu chạy trên đường ray, dập dềnh băng qua những ngôi nhà màu khói ở xa xa giữa đất trời xám xịt, tạo cho tôi cảm giác như được trôi bềnh bồng giữa thế giới. Vùng đất này thật kì lạ, thiên nhiên thì rất xanh tươi nhưng thành phố lại có vẻ hoang tàn, xơ xác. Nhất là vùng ven biên giới Pháp – Tây Ban Nha, nơi đó thoạt nhìn cứ như một chiến trận với những khu chung cư còn xém màu bom đạn. Có lẽ nếu không kể đến khu ăn chơi dành cho giới thượng lưu như San Sebastian thì những ngôi làng xung quanh thật đơn sơ, giản dị đến nhường nào. Và Zumaia lại như một đóa hoa dại với nét mộc mạc nhưng căng tràn sức sống, được ươm mầm giữa chốn phồn hoa đó.
shutterstock_731007397

shutterstock_1036515268

Zumaia nói đơn giản chỉ là một cái làng chân chất, thiên nhiên thì trù phú nhưng số người sống lại khá thưa thớt. Ngôi làng này chẳng có gì đặc biệt, ngoài vài căn nhà cổ xung quanh nhà thờ chính thì còn lại đều là nhà cao tầng, tất cả đều mới xây dựng cách đây chừng chục năm. Tại đây cũng không có nhiều hàng quán, dẫu có thì cứ đến 13h là đóng cửa nghỉ trưa, còn giờ mở cửa trở lại thì lại… tùy hứng! Có khi là 15h nhưng cũng có lúc đến tận 17h. Cửa hàng thì đóng mà tiệm cafe vẫn luôn đông. Lối sống chậm rãi và hưởng thụ quá nhiều ở đây đôi lúc làm tôi thấy khó hiểu.  Tôi đã kì vọng Zumaia nhỏ xinh, đáng yêu như một ngôi làng chài ở Cinque Terre nhưng hóa ra nó chẳng được phố thị, cũng chẳng giản dị đáng yêu mà khoác lên mình vẻ sơ sài đến tội nghiệp.

shutterstock_314948195
Bãi biển Zumaia không chỉ có nắng vàng, biển xanh, cát trắng mà còn cả những mảng cỏ xanh mát mắt trải khắp những ngọn núi bao quanh bãi biển.

shutterstock_619374224

shutterstock_646283989

shutterstock_1146985901
Tạo hóa ban tặng cho Zumaia những lớp răng cưa thiên nhiên đầy độc đáo

Nhưng đừng vội chán cuộc sống ở Zumaia vì thiên nhiên chính là thứ mà tạo hóa bù đắp lại cho mảnh đất trù phú này. Zumaia đã cùng 2 ngôi làng nữa chia nhau đường bờ biển tuyệt đẹp, xứng danh kì quan thiên nhiên thế giới. Dọc bờ biển, đá tạo dựng thành một hình thái khác lạ, gọi là Flysch và những ngọn núi cũng được tạo ra từ những lớp đá mảnh đó. Nếu cắt dọc, chúng trông như ruộng bậc thang, tầng tầng lớp lớp với màu sắc ombre chuyển từ xám nhạt sang đậm rồi thành màu nâu tối. Trong khi đó, lát cắt dọc của chúng lại tạo cảm giác như hàng nghìn bánh răng cưa của một động cơ khổng lồ. Tất cả đều mang trên mình vết hằn của thời gian mà có lẽ cổ máy thiên nhiên tại đây đã vận hành liên tục suốt hơn 100 triệu năm, để có những dãy núi hùng vĩ đến thế.

shutterstock_1137864305

shutterstock_1181594776

Sự già cỗi của núi đang được phô bày ra khi nước biển lấn vào ngày một nhiều, biến những ngọn núi to cao ấy thành những mạch đá dài chạy dọc bờ biển. Loại địa hình này chạy dài từ chân núi, băng qua 8km bờ biển, rồi chìm vào lòng nước, giống như rễ của cây si đang len lỏi giữa đại dương, tạo cho xứ Basque một nét bí ẩn của thiên nhiên mà chẳng nơi nào cũng có được.

Khi tôi tới bờ biển thì trời cũng vừa tạnh. Những cơn gió mạnh mẽ lùa vào mạch đá, từng đợt sóng to cuộn lên tung bọt trắng xóa, rồi tràn vào giữa những kẽ đá dọc bờ đến vỡ tan như bọt bong bóng xà phòng. Cả khung cảnh lúc này như được cấu thành từ hàng triệu hạt nước nhỏ li ti xám trắng. Khoảnh khắc nửa dữ dội nửa nên thơ ấy khiến tôi cảm thấy như được ngược dòng thời gian trở về thời nguyên thủy, khi sự sống còn hình thành trong lòng nước từ các vi tảo, rồi mọi thứ dần phát triển lên bờ và cây cối thi nhau mọc tạo nên những bình nguyên.

shutterstock_235202506

Trên đầu các ngọn núi bấy giờ là những thảm cỏ xanh. Mưa xuân đang mang màu sắc mới cho vùng đất này. Nhà thờ nhỏ nằm trên cao với những cơn gió lạnh ùa vào, mà đôi lúc cứ như có thể đánh bật người ta xuống khơi. Ngọn hải đăng ở xa đã bị che lấp dễ dàng bởi hơi nước ẩm ướt. Chẳng thấy có du khách nào ở Zumaia, đến người dân cũng vậy, họ như trốn hết trong các quán café, hoặc trong các nhà hàng nhâm nhi những con cá nằm trong rọ sắt nướng trên than hồng ấm áp.

Thực hiện: depweb

12/11/2018, 08:00

“Nấc thang lên thiên đường” ở Hoàng Su Phì

Du Lịch

Khi những con nắng đã bớt gắt hơn, khi làn gió mùa thu se sắt thổi tới từng ngõ ngách của phố xá. Cũng là lúc miền núi bước vào một vụ mùa mới, mùa của những gánh lúa vàng no ấm. Đó là khi những kẻ ham xê dịch lại lên đường, tìm về những miền heo hút nơi biên viễn, tìm về những thửa ruộng bậc thang trải dài trên sườn đồi. Những đoàn xe lại nối đuôi nhau hướng về mùa gặt, về với bông lúa nương vàng ươm mùi nắng.

img_1461
Ruộng bậc thang ở bản Phùng – một trong những nơi đẹp nhất ở Hoàng Su Phì
img_1497
Những nương lúa đang chín vàng, dưới cái nắng thu se sắt của miền núi

Chúng tôi không chọn cho mình cung đường phẳng lặng ngắn nhất để đến mảnh đất Hoàng Su Phì mà chọn đi vòng qua Bắc Hà, Xín Mần để tận hưởng thêm nữa cái lạnh se sắt của mùa thu miền núi. Chặng đường cao tốc Nội Bài – Xuân Giao như là bài thử đầu tiên cho hai “bạn đồng hành” của chúng tôi là Porsche Macan và Cayenne mới.

Chất thể thao đã ngấm vào từng chi tiết trong chiếc xe và hệ thống động lực mạnh mẽ vốn là “đặc sản” của Porsche khiến người lái có những cú tăng tốc như “dính ghế” cũng như cảm giác lái đầm chắc khi chạy tốc độ cao. Có lẽ, chẳng cần phải nói thêm nhiều về tiện nghi, trang bị hay cảm giác lái “đã đời” mối khi được “nài” “hổ Macan” và “Ớt Cayenne” ngoại trừ giá bán tại Việt Nam sẽ không dành cho số đông.

img_1482
Bạn đồng hành Porsche Macan và Cayenne 2018 mới

Xuân Giao rồi Phố Lu và ngược dốc lên Bắc Hà khi trời đã xế muộn, cung đèo nằm cheo leo như sợi chỉ ai vắt giữa lưng trời mà trên đó, chúng tôi đang nhích dần để tới mảnh đất vốn là lãnh địa của Vua Mèo Hoàng A Tưởng khi xưa. Bắc Hà không có mênh mang lúa chín nhưng lại có những rừng thông, sa mộc, có mùa mận nở trắng đồi khi xuân về hay lễ hội đua ngựa độc đáo. Với khí hậu gần giống với Sapa, mùa hè ở Bắc Hà cũng khá mát, mùa đông lạnh và mùa thu thì nắng vàng rải khắp lối đi. Chúng tôi chẳng vội vã, vài cú nhích ga nhẹ, những khúc cua cứ chậm chậm bị bỏ lại phía sau, mở toang cửa sổ trời để hít hà cái không khí trong lành và mát lạnh của miền núi.

26
Có khá nhiều phiên chợ đặc sắc trên cung đường như chợ Bắc Hà, Si Ma Cai, Vinh Quang, Cốc Pài…
24
Chợ Cán Cấu là phiên chợ gia súc họp vào thứ 7 hàng tuần

Từ Bắc Hà, tới Lùng Phìn rồi Nàn Ma và Xín Mần trước đây là cung đường off-road thử thách bất cứ tay lái nào, sau đó được làm lại nhưng nay bị xuống cấp khá nhiều tạo nên vô số ổ gà cũng như những đoạn đất đá lổn nhổn. Với Cayenne thì quá dễ dàng, sử dụng các chế độ khác nhau giúp tăng hệ thống động lực hay nâng hạ gầm giúp xe dễ dàng thoát những rãnh và hố sâu. Bù lại cho cung đường “không như mơ” đó thì cảnh sắc lại khiến những người lữ khách có thể phải chùng lòng. Dăm ba nép nhà giữa rừng núi với thửa ruộng đang chín vàng, khói bếp nhà ai nấu sớm lẫn cả sương núi cứ lẩn quất tạo nên khung cảnh đẹp như tranh vẽ.

img_1449
Những cung đường như được nhuốm một màu vàng ruộm của lúa và nắng
dsc_1559
Thật khéo khen cho bàn tay của đồng bào nơi đây đã làm nên những kỳ quan tuyệt sắc

Vượt hết những khúc quanh, những bùn lầy và đất đá, chúng tôi tới Xín Mần rồi vòng sang Hoàng Su Phì. Con đường nhựa nhỏ bé nằm cheo leo nơi vách núi, phía dưới kia là dòng suối chảy quanh co qua cả thửa ruộng đang chín vàng. Vượt qua đèo Gió cũng là lúc chỉ còn lại màu vàng của lúa và màu xanh của trời. Những mái nhà nép mình bé nhỏ dường như lọt thỏm giữa triền núi đầy ruộng bậc thang. Thật khéo khen cho bàn tay những người dân nơi đây, qua bao đời đã làm nên những kỳ quan tuyệt sắc.

img_1523
“Hổ Macan” giữa những trập trùng lúa chín
2
Bình yên bao mái nhà nép mình bên nương lúa

Từng bờ ruộng như những nét chấm phá uốn lượn, chở trên mình là bụi lúa nặng trĩu bông. Thêm sắc cho bức tranh đó có dăm cô gái Mông váy áo đỏ rực đang cúi mình gặt. Không khí nhộn nhịp của mùa gặt hiện rõ, tất cả đều được làm bằng tay. Từ gặt lúa, rồi đập, rồi phơi, rồi chà xát tạo thành gạo, tất cả những công đoạn ấy đều từ bàn tay những con người nhỏ bé sống giữa lưng trời này làm nên. Tôi ngồi lại bên triền đồi nơi bản Phùng rồi bản Luốc trong một buổi chiều đầy nắng. Khói bếp nhà ai đã lên bảng lảng, hối hả những bó lúa cuối cùng, cả thửa ruộng giờ đây được nhuốm thêm màu vàng càng làm cho nổi bật hơn.

img_1507
Hoàng Su Phì cách Hà Nội chừng hơn 300km, bạn có thể đi bằng hai con đường để tới đây. Một là qua Bắc Hà hay là thẳng từ Tân Quang lên.

Chúng tôi xuống tận nương, gặp từng người nông dân đang thoăn thoắt gặt lúa. Để được nghe câu chuyện về ruộng, về những nhọc nhằn ngày ngày khi đắp bờ giữ nước. Tiếng Kinh còn chưa rõ, những ông bố, bà mẹ và cả những đứa trẻ mà chúng tôi gặp trên đường đều hiếu khách một cách rất tự nhiên như bản chất thật thà của họ.

img_5055
Ngoài mùa lúa chín, Hoàng Su Phì cũng rất đẹp vào mùa nước đổ là khoảng tháng 5-6 hàng năm

Ruộng bậc thang Hoàng Su Phì không chỉ mang những giá trị về vật chất mà còn mang nhiều giá trị về lịch sử, văn hóa. Những thửa ruộng nhìn từ trên xuống như những đồng bạc vàng được xếp tầng xếp lớp. Xen vào tầng tầng lớp lớp ấy là nhà của bà con người Nùng, Dao, La Chí, Mông… sinh sống giữa sườn núi. So với nhiều nơi khác, ruộng bậc thang Hoàng Su Phì có nhiều cái hơn. Cái hơn thứ nhất là có cánh “đồng” ruộng rộng tới gần 200ha ở bản Luốc, cái hơn thứ hai là tổng diện tích ruộng bậc thang lớn tới 764ha với thời gian hình thành đã hơn 300 năm, cái hơn thứ ba là độ cao xếp tầng của những thửa ruộng (có những đoạn cao đến 1,5m giữa hai bậc) và có tới hàng ngàn bậc thang như thế.

13
Những thửa ruộng như các đồng bạc xếp chồng chồng lớp lớp lên nhau

Lúa ở đây chỉ một năm một vụ nhờ hoàn toàn vào nước trời. Đó chính là nét độc đáo và khác lạ của ruộng bậc thang, đồng thời cũng thể hiển sự khéo léo và tài tình của những bàn tay đã làm nên chúng. Do địa hình đồi núi không thể tưới nước như đồng bằng nên những nấc thang sẽ giúp cho nước được sử dụng một cách triệt để nuôi lớn từng khóm lúa. Thường được gieo hoặc cấy vào độ tháng 5, rồi cứ để thế chờ cho nước mưa mùa tháng 6 tháng 7 nuôi lớn từng cây mạ nhỏ bé. Rồi nắng tháng 8 tháng 9 vàng rực giúp cho chúng trổ bông, kết hạt và ngả chín. Đó là lúc bà con bắt đầu thu hoạch, rồi cứ để mặc ruộng không cho đến tháng 5 năm sau như vòng quay của con nước mùa lũ.

img_1473
Chúng tôi đi giữa bản Phùng khi lúa đang độ chín rộ nhất

Từ trung tâm xã bản Phùng có thể phóng tầm mắt khắp mọi hướng, đâu đâu cũng tầng tầng lớp lớp một màu vàng óng của những thửa ruộng bậc thang mùa lúa chín. Hay như thung lũng Thông Nguyên, Nậm Ty mà chúng tôi đã ghé qua. Con đường men theo bờ suối cứ xuống dần xuống dần đến tận thung lũng là nơi họp chợ của bà con quanh đây. Khu trung tâm hành chính của xã nhỏ bé nằm lọt thỏm giữa bốn bên là núi là rừng. Đứng ở giữa chiếc cầu nối hai bờ suối nhìn lên bốn hướng đều là màu vàng của lúa. Bà con người cứ làm ruộng gần bờ suối làm lên, làm cho đến khi tới tận “đỉnh trời” thì dừng lại.

img_1574
Những nương lúa trải dài từ dòng suối lên tới tận đỉnh núi
img_1514
Hẹn gặp lại Hoàng Su Phì trong mùa thu năm sau

Cung đèo Cổng trời nối Tân Quang với Hoàng Su Phì giờ đã dễ đi hơn dù vẫn còn những góc cua tay áo khá gắt, những thửa ruộng đang chín vàng vẫn trải dài trên các sườn núi như muốn lưu luyến lữ khách. Dừng chân bên đèo, ngắm nhìn cả đất trời Hoàng Su Phì,  những vệt nắng thu chiếu rọi xuống thung lũng như đang tô điểm thêm những nét vẽ cuối cùng cho bức tranh tuyệt sắc của tự nhiên và con người, như món quà tiễn cả đoàn xuôi xuống Tuyên Quang rồi trở lại Hà Nội phồn hoa náo nhiệt. Hai bạn đồng hành Porsche Cayenne và Macan đã làm trọn vai kẻ vận chuyển đưa chúng tôi trên từng thang bậc cảm xúc của hành trình giữa mùa thu miền núi.

Đàn ông Ai Cập xây đền, đàn bà La Mã xây bếp

Du Lịch

Luxor – cố đô xưa cũ của Ai Cập, vốn được biết với cái tên Thebes. Khi người hồi giáo tới đây, họ thấy những lâu đài tráng lệ, những đền thờ nguy nga, những mộ phần lộng lẫy và cái tên Luxor ra đời (theo tiếng Ả Rập nghĩa là những lâu đài). Nằm ở thượng lưu sông Nile, nhờ ơn thần Amun, dân nơi đây sống khỏe mạnh bởi việc khai thác đá Alabaster và uống nước mía.

Để cảm tạ vị thần này, dân Luxor xây cho Amun không chỉ một đền mà cả một khu đền Karnak. Tôi nghĩ rằng Karnak theo tiếng Ả Rập nghĩa là choáng ngợp bởi đó là cảm giác đầu tiên khi bước chân đến đây. Là một thứ cha truyền con nối nên sự hoành tráng của Karnak là không thể chối từ. Có tới 11 đời Pharaoh xây đắp công trình này nên nó là thể thống nhất những nghệ thuật lộn xộn.

c_ng-thanh-dang-d_-c_a-karnak
Cổng vào dang dở của Karnak

Người Ai Cập xây nhà rồi mới xây cổng

Khi xưa, dân Ai Cập thích xây nhà rồi mới xây cổng. Mặt trời đã bao lần mọc lặn trên thung lũng các nhà vua mà cổng thành của Karnak vẫn chưa hoàn thành và sẽ chẳng bao giờ hoàn thành. Tuy nhiên ẩn sau nó lại là cả một công trình đồ sộ, tinh xảo, đủ đầy. Đầu tiên là hàng tượng nhân sư đầu cừu, rồi khu sân rộng cùng những gian phòng nhỏ thờ thần Amun, vợ thần Mut và con trai – thần mặt trăng. Nơi cúng tế được dựng nên bởi những bệ đá Alabaster trắng sữa để dân thường tập trung khấn vái.

hang-tuong-nhan-su-dau-cuu-o-cong-vao-karnak_2
Hàng tượng nhân sư đầu cừu ở cổng vào Karnak
karnak-dang-d_
Nhiều thứ ở Karnak vẫn còn chưa hoàn thiện 

Dân ở đây có thể cúng các vị thần hoặc các Pharaoh tôn kính. Bởi bên cạnh tượng thần Amun cùng vợ thì tượng Seti I, tượng Tutankhamun cũng hiện hữu. Nhưng, như hầu hết các công trình kì vĩ khác của Ai Cập, nơi hoành tráng nhất của đền phải dành cho Ramses II. Người ta bảo Ramses II là kẻ đánh cắp vinh quang ghê gớm nhất trong lịch sử, khi đi đến đâu ông cũng khắc cartouche của mình (cartouche là hình oval có các chữ tượng thể hiện tên hiệu của Pharaoh), thậm chí khắc đè lên người khác. Ở Karnak cũng thế, trong căn phòng to rộng với hơn 134 cái cột giống hình những cây sậy, xây dựng bởi Seti I, trần nhà cũng chi chít cartouche của con trai ông bởi Ramses II chính là người cho thi công trang trí. Căn phòng này vốn được xây dựng để làm nơi cho các Pharaoh biểu dương sức mạnh của mình. Pharaoh phải chiến đấu với mãnh thú vài ba lần trong cả cuộc đời vua chúa. Lần cuối cùng thể hiện mình của Ramses II là khi ông 80 tuổi và ông phải đánh nhau với một con cá sấu sông Nile. Với sự tài tình nào đó, con cá sấu chết còn Ramses II sống tới tận năm 90 tuổi.

nh_ng-cay-c_t-hinh-s_y-t_i-__n-karnak
Có tới 11 đời vua Pharaoh cùng xây dựng nên những công trình vĩ đại này
nh_ng-cay-c_t-hinh-s_y-t_i-__n-karnak_2
Có đến hàng trăm cây cột lớn ở khu quần thể Karnak

Đi sâu hơn vào bên trong Karnak dễ nhận thấy sự in dấu của nữ quyền. Khoảng sân rộng với những cột Obelisk hay tượng nữ hoàng Hatshepsut uy nghi. Obelisk không chỉ tượng trưng cho sự sùng bái thần thánh mà đơn giản nó giống như biển báo “Ở đây có một cái đền”. Hatshepsut cho bọc hợp kim vàng hai Obelisk để chúng sáng choang một góc trời. Một obelisk cho cha mình, còn cột còn lại cho vị cha tối thượng Amun.

Như tất các cả Pharaoh nam khác, Hatshepsut luôn tự coi mình là con gái của thần. Hẳn cũng vì cái sáng choang ấy mà khi con rể của Hatshepsut lên ngôi, hắn cho xây tường bao quanh để che dấu đi sự xấu hổ của dòng tộc (sách Lonely planet thì bảo hắn cạo sạch hợp kim vàng). Thời gian phủ bụi lên Obelisk, đập đổ tường vây. Một Obelisk lộ ra chẳng còn sáng lóa, một cột Obelisk gục xuống vẫn bóng nguyên màu granite. Hatshepsut dù bị hạ bệ, vẫn được ghi nhận thân phận đế vương cùng những dấu tích chẳng thể tàn phá bởi Thumose III hay cát bụi thời gian.

cartouche-_-__n-karnak
Cartouche là hình oval có các chữ tượng thể hiện tên hiệu của Pharaoh
obelisk-_-karnak
Khoảng sân rộng với những cột Obelisk
Hàng năm khi lễ hội Opet diễn ra, những đoàn thuyền sẽ được điều động tới, đưa rước thần Amun cùng lễ vật tới thăm vợ thần là thần Mut ở đền Luxor.

Cát bụi thời gian chỉ che phủ hồ nước xưa kia các thầy tu tắm mình ngày hai lần để thanh khiết cơ thể. Ngày nay hồ không còn, thầy tu cũng chẳng có, chỉ có một cột đá diệu kì. Tôi vẫn chưa biết vì sao nó kì diệu nhưng nghe đồn là nếu đi vòng quanh nó 3 vòng sẽ trở nên giàu có, 7 vòng sẽ tìm thấy tình yêu, còn 50 vòng tôi đoán là sẽ thành… tour guide.

Khu vực hồ kéo thẳng ra cánh cửa phụ của đền, gần ngay cảng sông Nile. Hàng năm khi lễ hội Opet diễn ra, những đoàn thuyền sẽ được điều động tới, đưa rước thần Amun cùng lễ vật tới thăm vợ thần là thần Mut ở đền Luxor. Nghe cũng hao hao cầu ô thước của Ngưu Lang – Chức Nữ. Chỉ khác là cả đi và về Ngưu Lang đều phải leo cầu quạ, còn thần Amun khi đi tàu biển, lúc về ngão nghệ thuyền mặt trời với nhiều người khiêng, vượt qua 3km đường nhân sư về ngự lại Karnak.

cho-luxor_1
Khu chợ ở Luxor
luxor-58
Chân dung một cậu bé ở Luxor

Luxor – Khu đền nhuốm màu thời gian

Đền Luxor nhỏ bé hơn Karnak nhưng cấu trúc tương tự với cổng thành, hàng tượng nhân sư bên ngoài, khoảng sân rộng thờ cúng và Obelisk ở lối vào. Trước đây Luxor có 2 Obelisk đối xứng, nhưng một ngày Mohamed Ali nổi hứng “nhổ bật” một cái đi tặng người đẹp – nữ hoàng nước Pháp, thì chỉ còn lại một Obelisk rất sáng giá và đáng được yêu thương. Không yêu thương sao được khi đền Luxor bé nhỏ này đã từng bị chôn vùi bởi cát sa mạc, bị đốt cháy bởi người theo đạo Thiên Chúa giáo, bị phá nát bởi người Ả Rập. Dù bầm dập vậy, đền vẫn đứng rất hiên ngang, ôm đầy sự lộn xộn.

c_ng-vao-__n-luxor
Cổng vào Luxor

Khi bước vào đền, điều đầu tiên đập vào mắt là sự bành trướng của mosque hồi giáo (dù là phần được thêm vào cuối cùng). Không phải người Hồi giáo không trân trọng tác phẩm cổ đại này, họ chỉ ngây thơ nhiệt tình thành vô tình phá hoại. Khi Nile dâng nước lên, phù sa phủ ngập, rồi gió cát sa mạc tràn lên, giấu kín ngôi đền trong câm lặng. Người hồi giáo tới, bắt tay xây dựng nhà nguyện của họ trên mảnh đất bằng phẳng này. Bình yên cho tới một ngày họ thấy có những tượng đầu người trồi lên khỏi lớp cát. Không chịu được sự phiền phức này, họ chém tan mấy đầu tượng mà không ngờ rằng bên dưới đó là thế giới kì vĩ.

c_n-phong-cay-s_y-c_a-__n-luxor
Căn phòng với những chiếc cột lớn ở Luxor

Những bước tượng câm nín. Nhưng sự ngoi lên của chúng cũng gây chú ý của cả Ai Cập. Những nhà khảo cổ đã “đẩy lên” cho thế giới một đền đài nguy nga, với 10 tượng Ramses II khổng lồ cả đứng, cả ngồi, đội mũ miện hay mũ chiến tranh (mũ chiến màu xanh còn mũ miện màu trắng – đỏ là sự kết hợp giữa mũ trắng của vùng hạ và mũ đỏ của vùng thượng Ai Cập). Chen giữa những cây sậy đá cao lớn, kể cả những tượng mất đầu vẫn đẹp nguyên sự oai hùng. Sau lưng người con thần Ra, tượng của Amenhotep III, của Tutankhamun cùng vợ, và một căn phòng hàng trăm cây cột như một hồ sậy đá nở rộ. Người Ai Cập dựng cột, dựng đền, dựng cả huyền thoại.

luxor-temple-22
Bức tượng lớn trong khu Luxor

Đền Luxor kì vĩ này có 3 gian chính. Gian cuối dành làm nơi ở của các vị thần, khách khứa trong lễ Opet, nhưng đã bị Alexander đại đế chen ngang, xây ngay một buồng nhỏ ở giữa phòng để dâng tặng thần Amun. Gian phòng này nằm ngay sau gian phòng của vợ chồng thần Amun. Còn gian ngoài cùng nơi chứa thuyền mặt trời, có thời bị dân La Mã chiếm cứ. Khi trốn chạy khỏi chính quyền, họ nghĩ nơi nguy hiểm nhất là nơi an toàn nhất, nên đã cho bịt kín một căn phòng trong đền làm căn cứ. Họ trang trí tường và trần phòng bởi hình ảnh chúa Jesus với các thiên thần. Khi không thể ra ngoài, thì người La Mã đốt lửa nấu nướng luôn tại đây. Căn phòng linh thiêng trở thành một cái bếp ám khói. Quả là (đàn ông) Ai Cập xây đền, (đàn bà) La Mã xây bếp.

nh_ng-cay-s_y-_a-_-__n-luxor
Những chiếc cột như hình cây sậy ở Luxor
tuong-ramses-khong-lo
Tượng Rames khổng lồ

Về tổng thể đền Luxor là sự kết hợp tôn giáo kì lạ của Hồi giáo, Thiên Chúa giáo, Lễ giáo Ai Cập. Hiếm nơi nào các tôn giáo xa lạ lại cùng chung sống hạnh phúc như thế. Dù hiện hữu dưới hình dạng chúa Jesus, Đức Phật hay thánh Ala thì chúng ta cũng chỉ có một đấng toàn năng. Thật không có gì sai trái khi dành tình yêu và niềm tin cho tất cả các hiện thân của người (“Lời thú tội của Pi”). Kể khi Chúa bắt loài người phải chết vì tội lỗi xưa cũ của Adam và Eva thì cuộc sống tươi đẹp vẫn cần thật nhiều niềm tin.

song-nile-va-ruong-mia
Sông Nile trong buổi bình minh với trải nghiệm khinh khí cầu độc đáo