Mỹ gây sốc khi có đến 95% mẫu thử thức ăn cho trẻ em chứa 4 thành phần kim loại độc

ĐẸP KIDS

Thực phẩm dành cho trẻ em mà đặc biệt là trong những năm tháng đầu đời luôn là mối quan tâm lớn đối với bậc cha mẹ. Tuy nhiên, theo một cuộc điều tra mới nhất được tổ chức Healthy Babies Bright Future công bố tại Mỹ, thực phẩm dành cho trẻ em được phát hiện có chứa các kim loại nặng độc hại, gây ảnh hưởng đến sự phát triển trí não của trẻ. 

Thử nghiệm được tiến hành trên 168 loại thực phẩm dành cho trẻ em từ các nhà sản xuất lớn ở Mỹ đã cho thấy: có đến 95% sản phẩm chứa chì, 73% chứa asen, 75% chứa cadmium và 32% chứa thủy ngân. Trong đó, 1/4 số thực phẩm chứa tất cả bốn kim loại nặng nói trên; và 1/5 mẫu thức ăn chứa lượng chì cao gấp 10 lần giới hạn cho phép bởi các chuyên gia y tế công cộng.

95% mẫu thử thức ăn cho trẻ em ở Mỹ chứa thành phần kim loại độc

Kết quả này trùng khớp với kiểm nghiệm trước đây của Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ (FDA). Khi đó các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra 33 trong số 39 loại thức ăn cho trẻ nhiễm những loại độc kim loại trên. Bên cạnh đó, các phân tích cũng khẳng định thực phẩm có nguy cơ gây độc thần kinh cao nhất là các sản phẩm làm từ gạo, khoai lang và nước ép trái cây: “Lượng kim loại tồn đọng trong thức ăn dù có nhỏ đến đâu nhưng khi vào cơ thể, chúng cũng để gây hại cho quá trình phát triển não bộ, cũng như tổn hại lâu dài đến năng lực IQ của trẻ. Và sự ảnh hưởng tai hại nói trên tỷ lệ thuận với số lượng thức ăn trẻ nạp vào”.

Báo cáo cũng lưu ý rằng dù là bất cứ lứa tuổi nào, nước ép hoa quả cũng chỉ nên dùng ở mức tối thiểu.

Cụ thể, các món như cơm và đồ ăn nhẹ làm từ gạo đứng đầu danh sách các thực phẩm độc hại nhất cho trẻ sơ sinh. Những thực phẩm phổ biến này không chỉ chứa nhiều asen vô cơ (dạng asen độc hại nhất), mà còn gần như luôn bị nhiễm cả 4 kim loại độc hại. Một nghiên cứu hồi năm 2004 đã chỉ ra rằng mức độ tiếp xúc với asen dù thấp vẫn có thể ảnh hưởng đến sự phát triển thần kinh của trẻ. Theo đó, trẻ em Bangladesh sống ở vùng nước bị nhiễm asen cho thấy tình trạng suy nhược trí tuệ khủng khiếp. Qua bài kiểm tra IQ ở trẻ em 5-15 tuổi, người ta tổng kết rằng lượng asen tăng 50% sẽ làm giảm 0.4 điểm IQ của trẻ.

Để thay thế nhóm thực phẩm này, tổ chức Healthy Babies đề nghị bậc phụ huynh nên chuyển sang cho con ăn các loại ngũ cốc chứa ít asen.

Theo FDA, do gạo được trồng trong nước nên nó hấp thụ asen vô cơ tốt hơn, đó là chưa kể bản thân nó cũng đã có nồng độ asen cao nhất so với bất kỳ loại thực phẩm nào. Trong trường hợp này, gạo nâu (gạo lứt) và gạo hoang (gạo được thu hoạch trên các đồng cỏ hoang dã gần những dòng suối nông và hồ nhỏ ở khu vực Bắc Mỹ) là 2 loại có hàm lượng asen cao nhất bởi vì chúng chưa trải qua quá trình xát vỏ để loại bỏ phần bao bọc bên ngoài – vốn chứa rất nhiều asen. Gạo hữu cơ cũng không ngoại lệ khi một nghiên cứu năm 2012 cho thấy siro gạo nâu – một chất làm ngọt thường xuyên trong thực phẩm hữu cơ, không cung cấp nhiều chất dinh dưỡng nhưng lại là một nguồn chứa hàm lượng asen đáng kể.

Sữa mẹ và nước được khuyến cáo là những lựa chọn tốt nhất cho trẻ.

Những con số thống kê trên không chỉ cảnh báo hiện tượng thức ăn trẻ em chứa nhiều kim loại độc, mà còn dấy lên hồi chuông báo động về thực trạng an toàn thực phẩm. Những mảnh kim loại rải rác từ trong nước mưa, trong chất thải xả ra môi trường, nhiễm vào các loài thực vật, động vật khác nhau rồi được con người khai thác làm thức ăn. Nông sản được nuôi trồng, hay được nuôi cấy hữu cơ đều có cùng chung nguy cơ chứa các kim loại độc ấy.

Theo khuyến cáo của Healthy Babies Bright Future, các bậc cha mẹ nên cho trẻ ăn các loại thực phẩm thay thế sau đây:
– Các loại ngũ cốc: yến mạch, đại mạch, lúa mì, quinoa.
– Bơ, bột rau nghiền, bơ đậu phộng, yến mạch và cá hồi.
– Nước lọc và sữa là những lựa chọn tốt nhất (tùy theo độ tuổi của bé). Trẻ dưới 6 tháng chỉ cần sữa mẹ hoặc sữa công thức (nếu không thể cho bé bú). Trong năm thứ 2, sữa tươi nguyên kem (whole milk) và nước nên là lựa chọn cho bé. Từ 2-5 tuổi, trẻ nên được chuyển sang sữa ít béo và nước.
– Khoai tây và cà rốt là nguồn cung cấp vitamin A và các dưỡng chất thiết yếu khác, nhưng cũng chứa chì và cadmium cao. Đừng loại bỏ 2 sản phẩm này khỏi bữa ăn, nhưng hãy đảm bảo rằng bé được ăn đầy đủ và đa dạng các loại hoa quả và rau khác.

Thực hiện: Huyền My Trương

28/10/2019, 09:25

Nguy cơ nhiễm hóa chất độc hại từ các sản phẩm vệ sinh phụ nữ

ĐẸP KIDS

Theo kết quả một nghiên cứu do Đại học Michigan tiến hành, người nào thụt rửa âm đạo nhiều hơn hai lần trong tháng, tỷ lệ các hợp chất có hại sẽ cao hơn 81% so với người không thụt rửa.

Ảnh minh họa. (Nguồn: Integrisok)

Theo cảnh báo từ Đại học Michigan (Mỹ), đăng trên trang web của trường mới đây, phụ nữ hay sử dụng các sản phẩm vệ sinh sẽ có nguy cơ cao bị nhiễm các hóa chất độc hại.

Trong giai đoạn từ 2001-2004, Đại học Michigan đã tiến hành một nghiên cứu với 2.432 phụ nữ độ tuổi từ 20-49, lấy thông tin về các sản phẩm vệ sinh phụ nữ họ dùng, gồm băng vệ sinh dạng ống đặt âm đạo, dạng miếng, cốc vệ sinh, các loại chất xịt, bột và giấy ướt vệ sinh.

Sau đó, các nhà nghiên cứu xét nghiệm máu của các phụ nữ này để tìm kiếm 8 chất có hại, qua đó phát hiện có sự liên quan giữa tỷ lệ hợp chất hữu cơ bay hơi (VOC) trong máu với tần suất thụt rửa âm đạo.

Cụ thể, nếu người nào thụt rửa âm đạo nhiều hơn hai lần trong tháng, tỷ lệ các hợp chất có hại sẽ cao hơn 81% so với người không thụt rửa, còn chỉ cần thụt rửa một lần trong tháng thì tỷ lệ các hóa chất đã tăng 18%.

Tuy đây mới chỉ là nghiên cứu ban đầu được đăng tải trên Tạp chí Sức khỏe Phụ nữ online, song tác giả của nghiên cứu cũng khuyến cáo phụ nữ không nên sử dụng các sản phẩm vệ sinh công nghiệp.

Tác giả chỉ ra rằng phụ nữ thường quan tâm đến độ cân bằng vi khuẩn hay độ pH của cơ quan sinh dục song lại quên mất các hóa chất độc hại.

Các nhà khoa học cũng tiếp tục tiến hành các nghiên cứu nhằm tìm kiếm sự liên quan giữa sản phẩm vệ sinh và tỷ lệ VOC trong nước tiểu.

Bé gái 7 tuổi dậy thì sớm vì bật đèn lúc ngủ suốt 3 năm

ĐẸP KIDS

Quá trình sản sinh melatonin ở trẻ em thường diễn ra mạnh mẽ nhất vào ban đêm nhưng ánh sáng sẽ phá vỡ sự sản sinh hormone tự nhiên này, thậm chí còn ức chế nó.

Bé Dandan dậy thì sớm hơn ba năm so với bình thường. Ảnh minh họa. (Nguồn: www.odditycentral.com)

Một bé gái Trung Quốc mới 7 tuổi đã dậy thì. Nguyên nhân được xác định do cô bé đã bật đèn khi đi ngủ trong suốt ba năm liền.

Ở tuổi lên 7, Dandan (tên nhân vật đã được thay đổi) đã cao 1m20, vượt xa bạn bè đồng trang lứa. Thấy con lớn nhanh, mẹ cô bé rất vui mừng, tới nỗi không hề thắc mắc tại sao con mình lại có thể cao thêm 10cm chỉ trong vòng một năm.

Tới khi tắm cho bé, chị mới phát hiện ra điều bất thường: con gái đã bắt đầu nhú ngực. Tá hỏa, mẹ Dandan đưa con tới bệnh viện và bị sốc khi biết con gái dậy thì sớm hơn ba năm so với bình thường.

Báo Chiết Giang thông tin sau khi kiểm tra toàn diện, bác sỹ cho biết cấu trúc xương của Dandan tương đương với trẻ lên 10 và buồng trứng của bé đã bắt đầu phát triển. Đây là những dấu hiệu của tuổi dậy thì, nhưng các bác sỹ cảnh báo rằng trái ngược với tốc độ tăng chiều cao vượt bậc trước đó, sau này cô bé sẽ không thể cao quá 1m50.

Mẹ Dandan rất bất ngờ trước kết quả đó nên đã hỏi lại bác sỹ về những nguyên nhân của chứng dậy thì sớm. Chị cho biết con gái mình không ăn đồ ăn chiên rán, thực phẩm chức năng hay uống nước ngọt và không hiểu điều gì đã dẫn tới sự thay đổi hormone này.

Trước thông tin từ gia đình cô bé, các bác sỹ cũng trở nên bối rối, nhưng sau khi hỏi kỹ hơn về thói quen sinh hoạt của Dandan, họ được biết trong suốt ba năm liền, cô bé luôn bật đèn khi ngủ.

Bố mẹ Dandan muốn rèn tính tự lập cho con bằng cách để bé ngủ một mình, nhưng vì cô bé sợ bóng tối, họ đã cho con để đèn sáng.

Các bác sỹ cho hay quá trình sản sinh melatonin ở trẻ em thường diễn ra mạnh mẽ nhất vào ban đêm nhưng ánh sáng sẽ phá vỡ sự sản sinh hormone tự nhiên này, thậm chí còn ức chế nó.

Sau khi phân tích, bác sỹ giải thích với bố mẹ Dandan rằng việc bật đèn sáng khi ngủ đã gây ra hiện tượng dậy thì sớm. Nghiên cứu chỉ ra rằng sự sụt giảm melatonin có liên quan đến sự phát triển sinh lý không mong muốn.

Truyền thông Trung Quốc cho biết các bác sỹ đã lỡ mất giai đoạn mở đầu quan trọng và khi điều trị, các loại thuốc sẽ có rất ít tác dụng.

Ô nhiễm không khí có thể gây rụng tóc và hói đầu

ĐẸP KIDS

Một kết quả nghiên cứu cho thấy bụi mịn PM10 và các hạt diesel đã làm giảm hàm lượng beta-catenin trong cơ thể, đây vốn là một loại protein thúc đẩy, duy trì sự mọc tóc.

(Nguồn: Getty Images)

Không chỉ ảnh hưởng chức năng phổi và đe dọa nghiêm trọng sức khỏe con người, một nghiên cứu mới đây thấy rằng ô nhiễm không khí còn gây hói đầu và rụng tóc.

Tuần này, một nghiên cứu được trình bày tại Hội nghị học thuật châu Âu về Da liễu và Hoa liễu (EDV) tại Madrid, Tây Ban Nha, đã chỉ ra mối liên hệ giữa ô nhiễm không khí và bệnh rụng tóc ở người.

Để chứng minh không khí ô nhiễm có thể gây ra hói đầu, các nhà nghiên cứu đã phân tích các tế bào được lấy từ đáy nang lông trên da đầu. Họ tìm thấy các phân tử ô nhiễm, sinh ra từ hoạt động công nghiệp và các loại xe hơi chạy trên đường.

Kết quả nghiên cứu cho thấy bụi mịn PM10 và các hạt diesel đã làm giảm hàm lượng beta-catenin trong cơ thể. Đây là một loại protein thúc đẩy, duy trì sự mọc tóc.

Nghiên cứu cũng này phát hiện hàm lượng của 3 loại protein khác cùng tham gia hỗ trợ và duy trì mọc tóc là cyclin D1, cyclin E and CDK2 bị hạ rõ rệt bởi tác động của các hạt phân tử nêu trên.

Trưởng nhóm nghiên cứu, ông Hyuk Chul Kwon thuộc Trung tâm nghiên cứu Khoa học Tương lai Hàn Quốc cho biết: “Mặc dù mối liên hệ giữa ô nhiễm không khí và các loại bệnh nguy hiểm khác như ung thư, tắc nghẽn phổi mạn tính và bệnh tim mạch đã được chứng minh, nhưng có rất ít nghiên cứu về tác hại của bụi mịn đối với da và tóc. Nghiên cứu của chúng tôi giải thích sự tác động của không khí ô nhiễm tới các tế bào nang lông của con người, chứng minh ô nhiễm không khí là nguyên nhân dẫn tới bệnh rụng tóc.”

Nghiên cứu cho thấy nguy cơ mắc bệnh phụ thuộc vào liều lượng phân tử ô nhiễm, tức là mức độ ô nhiễm càng cao thì tóc rụng càng nhiều.

Phân tử ô nhiễm (còn có tên hạt vật chất) là một hỗn hợp các chất rắn và chất lỏng bay lơ lừng trong không khí. Các phân tử này được chia thành 2 loại: bụi mịn hay hạt PM10 (có đường kính từ 10 micromet trở xuống) và bụi thô PM2.5 (có đường kính từ 2,5 micromet trở xuống).

Cả PM10 và PM2.5 đều được coi là chất gây ô nhiễm không khí nặng nề và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của con người theo nhiều cách khác nhau, chẳng hạn như gây đau tim hoặc các bệnh liên quan đến chức năng phổi, ung thư và nhiều vấn đề hô hấp.

Các chất dạng hạt này sinh ra từ việc đốt nhiên liệu hóa thạch gồm xăng, dầu diesel và từ hoạt động của các ngành công nghiệp khai thác, sản xuất vật liệu xây dựng như xi măng, gốm sứ, gạch…

Đừng để trầm cảm “đánh cắp” cuộc sống của bạn!

ĐẸP KIDS

Sulli, nữ idol người Hàn Quốc đã chọn cách kết thúc cuộc đời sau nhiều năm chống chọi với căn bệnh trầm cảm. Khoảng thời gian cô quay trở lại sau thời gian điều trị, vẻ ngoài rạng rỡ khi xuất hiện trước công chúng khiến người ta nghĩ rằng cô đã ổn. Nhưng không, và chắc hẳn chính cô cũng ý thức được điều đó. 

Giống như một con sâu đục thân, người mắc bệnh trầm cảm không biểu hiện bất kỳ dấu hiệu nào về việc mình đang mang theo căn bệnh nguy hiểm ấy. Hay như Sulli, chỉ đến khi thông tin về cái chết của cô qua đời, tất cả những điều cô từng chia sẻ về căn bệnh của mình mới được đào xới và quan tâm, dẫu đã quá muộn.

Chúng ta cần biết điều gì để ngăn chặn căn bệnh đang phá hủy cuộc sống của những người chúng ta thương yêu?

phu-nu-tram-cam-3

1.Trầm cảm gây đau đớn

Buồn phiền chỉ là một trong rất nhiều triệu chứng của trầm cảm. Trên thực tế, không ít người bị trầm cảm lại không hề có cảm giác buồn bã. Những người bị trầm cảm dễ gặp các triệu chứng như đau nhức toàn thân, đau đầu, chuột rút hay các vấn đề về tiêu hóa và cản trở nhiều hoạt động trong cuộc sống. Nếu bạn gặp phải một trong những triệu chứng dưới đây trong khoảng thời gian từ 2 tuần trở lên, hãy cân nhắc khả năng bạn đã bị trầm cảm:
– Thường xuyên cảm thấy buồn bã, lo lắng, trống rỗng
– Cảm giác tuyệt vọng hoặc bi quan
– Cáu gắt
– Cảm giác tội lỗi, vô dụng hoặc bất lực
– Mệt mỏi hoặc suy giảm năng lượng
– Khó ngủ, thường xuyên tỉnh giấc giữa đêm
– Mất hứng thú với các hoạt động trong cuộc sống
– Cảm giác bồn chồn, không yên
– Khó tập trung, ghi nhớ hoặc ra quyết định
– Di chuyển hoặc nói chuyện chậm hơn
– Mất cảm giác thèm ăn, thay đổi cân nặng đột ngột
– Đau nhức toàn thân, chuột rút, gặp vấn đề về tiêu hóa mà không có nguyên nhân rõ ràng
– Xuất hiện những suy nghĩ về cái chết

Hãy nói chuyện với bác sĩ về những triệu chứng này. Bác sĩ cần biết về thời điểm bắt đầu của triệu chứng, khoảng thời gian xảy ra trong ngày, tần suất xuất hiện và mức độ ảnh hưởng của nó đến các hoạt động thể chất và cuộc sống của người bệnh.

2. Các giai đoạn dễ xảy ra trầm cảm ở phụ nữ

– Tiền kinh nguyệt

Phần lớn phụ nữ đều biết về hội chứng tiền kinh nguyệt (Premenstrual Syndrome – PMS) với các rối loạn thể nhẹ như tâm trạng thất thường, đầy hơi, mệt mỏi, táo bón diễn ra trong một thời gian ngắn, khoảng 5-7 ngày trước kì kinh. Nguyên nhân chủ yếu do việc mất cân bằng hoóc-môn trong cơ thể trước ngày “đèn đỏ”.

Tuy nhiên, có một dạng rối loạn tâm thần tiền kinh nguyệt (PMDD) ít gặp hơn, nhưng lại nghiêm trọng và kéo dài hơn. Sự mất cân bằng nội tiết tố, đặc biệt là thiếu hụt hoóc-môn serotonin được xem là nguyên nhân chính dẫn đến các triệu chứng rối loạn này. Có khoảng 3-8% phụ nữ nhận thấy các dấu hiệu khó chịu gấp bội trước kì kinh như: cảm giác tuyệt vọng, có ý nghĩ về cái chết, luôn căng thẳng, hoảng sợ, không tập trung, không quan tâm đến sinh hoạt hàng ngày, mất ngủ, biếng ăn, đau nhức xương cơ.

phu-nu-tram-cam-4

– Sau sinh

Phụ nữ mới sinh thường phải đối diện với các rối loạn tâm thần từ khoảng 1 đến 4 tuần sau kỳ sinh nở. “Baby blues” là thuật ngữ miêu tả tâm trạng buồn bã, mệt mỏi, lo lắng, dễ cáu gắt xuất hiện ở thời điểm 3-4 ngày sau sinh. Hội chứng này liên quan đến lượng hoóc-môn suy giảm đột ngột và cơ thể bắt đầu cơ chế sản xuất sữa. Hội chứng “baby blues” không phải là bệnh, không cần điều trị, người mẹ chỉ cần được nghỉ ngơi, nhận được sự hỗ trợ của gia đình và bạn bè là đủ.

Tuy nhiên, trầm cảm sau sinh lại là rối loạn tâm thần nghiêm trọng hơn và thường liên quan đến yếu tố di truyền (tiền sử bị trầm cảm hoặc trong gia đình có người bị trầm cảm). Giống hội chứng “baby blues”, nhưng triệu chứng của trầm cảm sau sinh nghiêm trọng hơn: tâm trạng chán nản, bất lực, hay nghĩ về cái chết, có suy nghĩ làm tổn thương mình hoặc người khác, cảm thấy không có mối gắn kết nào với con. Phụ nữ bị trầm cảm sau sinh cần được hỗ trợ, điều trị và giám sát liên tục.

– Tiền mãn kinh

Khi phụ nữ bước vào độ tuổi 40-45, chu kì kinh nguyệt bắt đầu thưa dần và không đều, đó là những dấu hiệu đầu tiên của giai đoạn tiền mãn kinh. Trong giai đoạn này, nhiều người nhận thấy các triệu chứng rối loạn cả tâm thần và thể chất như: mệt mỏi, uể oải, nóng trong người, mất ngủ, buồn bực, chán nản, giảm ham muốn tình dục… Các triệu chứng này thường kéo dài ít nhất 2 tuần.

3. Trầm cảm có thể chữa trị

Với mỗi người, mức độ trầm cảm và triệu chứng là hoàn toàn khác nhau, chính vì vậy sẽ không thể có một phác đồ điều trị cho tất cả. Đôi khi các bệnh nhân trầm cảm phải trải qua một vài bước điều trị thử nghiệm để tìm được phương pháp phù hợp với mình. Điều này đòi hỏi sự kiên nhẫn, vì có nhiều loại thuốc cần đến 8 tuần hoặc lâu hơn để có hiệu lực đầy đủ với cơ thể.

Đừng bỏ cuộc cho đến khi tìm được phương pháp phù hợp, bởi việc dừng đột ngột có thể khiến các triệu chứng trầm cảm nặng hơn. Việc điều trị cần phải kéo dài trong nhiều tháng sau đó ngay cả khi người bệnh đã cảm thấy hoàn toàn khỏe mạnh. Thời gian ít nhất cho mỗi đợt điều trị bệnh là 6 tháng.

phu-nu-tram-cam-2

– Theo Tổ chức Y tế thế giới WHO, bệnh trầm cảm mỗi năm cướp đi sinh mạng của 850.000 người, và chỉ có 25% số người bị trầm cảm được điều trị đúng và kịp thời.

– Dự đoán đến năm 2020, trầm cảm sẽ là căn bệnh có nguy cơ cao thứ hai trong số những bệnh phổ biến toàn cầu, với 121 triệu bệnh nhân.

Cảnh báo bệnh béo phì có thế làm giảm 15 năm tuổi thọ

ĐẸP KIDS

Theo một nghiên cứu, bệnh béo phì mức độ nhẹ giảm trung bình 3 đến 5 năm tuổi thọ của con người, còn nếu ở mức độ nặng, con người sẽ mất đi 15 năm sống.

(Nguồn: theconversation.com)

Nhân Ngày thế giới chống bệnh béo phì (11/10), Cơ quan bảo vệ người tiêu dùng Liên bang Nga đã cảnh báo căn bệnh béo phì và các bệnh do hậu quả của béo phì có thể giảm tuổi thọ của con người tới 15 năm.

Cơ quan trên cho biết, theo nghiên cứu, bệnh béo phì mức độ nhẹ giảm trung bình 3 đến 5 năm tuổi thọ của con người, còn nếu ở mức độ nặng, con người sẽ mất đi 15 năm sống.

Theo thống kê, cứ 3 trường hợp tử vong thì có 2 trường hợp nguyên nhân do những bệnh liên quan đến rối loạn trao đổi chất béo và bệnh béo phì.

Cũng theo báo cáo của Cơ quan trên, hiện tại đa số các nước châu Âu có khoảng 15-25% người lớn mắc bệnh béo phì.

Ngoài ra, tỷ lệ mắc béo phì trong trẻ vị thành niên cũng gia tăng: đến 25% trẻ tại các nước phát triển bị thừa cân, và 15% mắc bệnh béo phì. Trong đó, thừa cân khi còn bé là nhân tố đáng kể ảnh hưởng đến nguy cơ béo phì ở lứa tuổi lớn.

Theo thống kê, đến 50% trẻ bị thừa cân lúc 6 tuổi đều bị béo phì khi trưởng thành, còn tỷ lệ này đối với trẻ thừa cân khi thiếu niên là 80%. Béo phì dẫn đến các bệnh phi truyền nhiễm nguy hiểm như bệnh tim mạch, ung bướu, tiểu đường.

Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) dự báo đến năm 2030, khoảng 41% dân số thế giới sẽ mắc chứng thừa cân.

Nhân Ngày thế giới chống bệnh béo phì, nhiều chính phủ khuyến cáo người dân nên giảm tỷ lệ thực phẩm tinh chế, đồ ăn nhanh, tăng hoạt động thể chất, đặc biệt là đưa thực đơn lành mạnh vào trường học và công sở.