Giải cứu “Trời sáng rồi, ta đi ngủ thôi”: lời kêu gọi không được xem là chiêu trò

Giải Trí

Sau khi “Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi” ra rạp ngày 27/9, ngày 28/9, trên trang Facebook cá nhân của đạo diễn bộ phim đã xuất hiện một bức “tâm thư” kêu gọi khán giả ra rạp ủng hộ bộ phim. Nội dung bức tâm thư lập tức làm dấy lên những phản ứng trái chiều từ khán giả. Tuy nhiên, công tâm mà nói, có phải khán giả đang phản ứng một cách quá nhạy cảm?

Tâm thư của đạo diễn Chung Chí Công tạo nên luồng ý kiến trái chiều trong khán giả. 

“Trời ơi phim chưa muốn chết!” – đó là thông điệp sau cuối trong bức tâm thư của đạo diễn Chung Chí Công. Lời nhắn nhủ rõ ràng đã được “chế biến” lại từ tên bài hát “Trời ơi con chưa muốn chết” của rapper Đen Vâu được nhân vật Vĩnh Tâm cover lại trong “Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi”. Bài đăng này đạt được hơn 5.600 lượt chia sẻ, tuy nhiên, không phải lượt chia sẻ nào trong con số khổng lồ ấy cũng với cùng một tâm trạng đồng cảm và sẻ chia.

Trước “Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi”, đạo diễn Trịnh Đình Lê Minh của bộ phim “Thưa mẹ con đi” cũng từng đăng tâm thư kêu gọi khán giả ra rạp xem phim, và hẳn chúng ta cũng không thể quên thời gian trụ rạp thần kì của “Song lang” có được cũng nhờ công lao không nhỏ của chiến dịch giải cứu phim được khởi xướng bởi đạo diễn Nguyễn Hoàng Điệp. Chúng ta phải sòng phẳng với nhau ở một điểm: việc kêu gọi “giải cứu phim” hoàn toàn không vi phạm pháp luật, không làm phương hại đến quyền lợi hợp pháp của bất kì ai. Những khán giả vẫn đang phân vân lựa chọn giữa những poster phim được treo ở trước cửa rạp, họ có thể hưởng ứng lời kêu gọi, nhưng họ cũng hoàn toàn có quyền quay lưng. Bởi vì họ là khán giả, họ là đối tượng được phục vụ, và họ có quyền lựa chọn. Đạo diễn Chung Chí Công cũng không ép buộc hay van nài khán giả ra rạp xem phim, anh chỉ nói bộ phim “cần các bạn”. 

Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi” là một trong những tác phẩm điện ảnh độc lập.

Không thể phủ nhận, “Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi” đang được giới thiệu đến với khán giả bằng những thông điệp không hiệu quả. Phim được mô tả là dành cho khán giả thích nhạc indie, sự khoanh vùng tưởng đã khu biệt và rõ ràng, nhưng hóa ra lại mông lung và khó gợi được sự đồng cảm. Còn trong bức tâm thư, đạo diễn Chung Chí Công sử dụng “tagline” “Trời ơi phim chưa muốn chết” để mô tả cảm xúc của mình. Và rõ ràng nó đã phản tác dụng. Phim chưa muốn chết, tức là nếu muốn phim sống, khán giả phải ra rạp. Tại sao khán giả phải chịu trách nhiệm cho một bộ phim mà họ còn chả hề biết đến sự tồn tại của nó cho đến khi cái trailer phim được lên sóng chỉ hơn một tuần trước ngày phim khởi chiếu? Tại sao ê kip của phim không làm truyền thông tốt hơn, tại sao phim không lựa chọn những gương mặt nổi tiếng hơn… một ngàn lẻ một câu hỏi tại sao nảy ra chỉ vì một thông điệp không gãy gọn.

Tác phẩm của đạo diễn Chung Chí Công ngay từ đầu đã khó lòng tiếp cận số đông đại chúng.

Công chúng có quyền bất bình vì tự nhiên được “tặng” cho thêm một trách nhiệm. Tuy nhiên, chỉ một thông điệp vụng về trong cách thể hiện lại khiến dư luận phản ứng tiêu cực và trái chiều đến như thế, thì chúng ta có vẻ đang quá xét nét bất công với “Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi”

Việc kêu gọi khán giả xem phim – từ chỗ là một lời mời gọi đúng là đã từng bị biến tướng thành những chiêu trò lấp liếm của nhà sản xuất để lờ đi chất lượng phim tệ hại, thành công cụ để nhà sản xuất tranh giành với đơn vị phát hành thêm vài phần trăm ăn chia… khiến cảm xúc và lòng tin của khán giả trở thành một thứ công cụ làm tiền trong tay nhà sản xuất. Nhưng liệu đấy có phải những điều mà đạo diễn Chung Chí Công đang âm mưu tiến hành với “Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi”?

Liệu đây có phải là một chiêu trò quảng bá phim “Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi”?

Xin trả lời, là không. Việc đạo diễn kêu gọi khán giả ra rạp xem “Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi” đến từ mong muốn chân thành của một người đã đổ mồ hôi nước mắt ra để làm phim, và muốn đứa con tinh thần của mình được đối xử một cách xứng đáng: nó là một bộ phim, và nó cần có khán giả, dù cho khán giả ấy có yêu thích hay ghét bỏ. Trong toàn bộ thông điệp gửi khán giả, không có một dòng một lời nào đổ lỗi cho cá nhân hay tổ chức nào đã gây khó khăn cho bộ phim. Nội dung này sau đó cũng không bị dùng như một công cụ để ê kíp truyền thông quảng bá cho bộ phim, dù sự thực, dư luận phản ứng với thông điệp này nhiệt tình hơn hẳn bản thân bộ phim mà vì nó, thông điệp này ra đời. Ở cả phía đạo diễn và ê kíp truyền thông, đây là cách hành xử đầy tự trọng và công bằng.

Không vi phạm pháp luật, không đi ngược lại đạo đức, không làm hại ai và không ảnh hưởng đến quyền lợi của ai, vậy chúng ta đâu còn lí do gì để bức xúc về cách đạo diễn của “Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi” kêu gọi khán giả ra rạp xem bộ phim của mình?

Bài: Anh Phan

07/10/2019, 10:00

Toàn cảnh làng văn nghệ thế giới bước vào mùa thu: đẹp và dễ chịu!

Bài viết nổi bật

Bước vào mùa thu, mùa đẹp và buồn nhất trong năm, dường như làng văn nghệ thế giới cũng đẹp và dễ chịu hơn rất nhiều, ở cả mảng điện ảnh hay âm nhạc, với những tác phẩm không chỉ để xem đó rồi thôi mà thực sự cuốn người ta vào một thế giới và bầu trời của riêng nó.

Một cảnh trong phim “Trời sáng rồi ta ngủ đi thôi”

Điện ảnh mùa thu: Chiêm nghiệm và tham vọng

Nếu như mùa hè là mùa của bom tấn điện ảnh thì mùa thu là mùa của những giải thưởng lớn, cũng là thời điểm các nhà làm phim phát hành những tác phẩm tham vọng nhất. Vài năm trở lại đây, những phim được ghi nhận tại Venice – liên hoan phim quan trọng nhất mùa thu – đều có một mùa giải thành công tại Oscar, điển hình là “The shape of water” hay “Roma”. Năm nay có lẽ cũng không là ngoại lệ khi chủ nhân giải Sư Tử Vàng là bộ phim “Joker” của đạo diễn Todd Phillips. “Joker” là câu chuyện tiểu sử về nhân vật gã hề điên loạn của thành phố Gotham, nhân vật đã trở thành kinh điển ngay từ khi y xuất hiện lần đầu trong tập truyện tranh “Batman” của DC Comics và sát hại nạn nhân bằng thứ nọc độc khiến gương mặt họ nở nụ cười quái đản.

Thành công của “Joker” giúp DC Comics lấy lại phong độ trên màn ảnh

Không riêng “Joker”, các tác phẩm tranh giải tại Venice 2019 cũng đánh dấu một năm điện ảnh khởi sắc sau năm 2018 tẻ nhạt, với sự trở lại của một loạt đạo diễn như Roman Polanski, Hirokazu Koreeda, Roy Andersson, Lâu Diệp, Steven Soderbergh. Với riêng James Gray, sau “The lost city of Z”, ông vẫn tiếp tục đề tài về những người đàn ông trong chuyến du hành của mình đến những miền đất thăm thẳm, nơi bản ngã đối diện với hư không, với “Ad Astra” – một tác phẩm dù không phải đỉnh cao trong thể loại của nó (làm sao có thể vượt qua những đỉnh núi như “Solaris” của Andrei Tarkovsky hay “2001: A space odyssey” của Stanley Kubrick), song vẫn là một tác phẩm tuyệt đẹp và buồn nao lòng về con người lửng lơ trong những tầng trời vũ trụ.

Brad Pitt có một năm 2019 đầy thành công sau giai đoạn chững lại trong sự nghiệp

Brad Pitt, người thủ vai chính trong “Ad Astra”, chỉ trong một khoảng thời gian ngắn, anh trình diện hai nhân vật hoàn toàn khác biệt: một Cliff Booth thật tự tại, thật ngầu trong “Once upon a time… in Hollywood” và giờ là phi hành gia Roy McBride với đôi mắt buồn quạnh quẽ. Với cả hai bộ phim, anh đều diễn không hề khoa trương, không hề cố định nhân vật bằng những “đòn” diễn uy lực, gây rúng động xúc cảm ngay tức khắc đối với người xem. Ngược lại, anh mở ra một chân trời cho nhân vật, diễn theo cách đầy sức gợi, cho người ta tiếp tục liên tưởng và nghĩ suy về vai diễn.

Nền điện ảnh Trung Quốc mùa thu này cũng thành công ngoài sức tưởng tượng với “Na Tra: Ma đồng giáng thế”, khi trở thành bộ phim hoạt hình không phải do Mỹ sản xuất có doanh thu cao nhất trên thế giới. Dù còn nhiều tranh cãi về chất lượng, không thể phủ nhận câu chuyện về cậu bé Na Tra huyền thoại đã đặt một dấu mốc cho sự phát triển thể loại phim hoạt hình Trung Quốc, chắc hẳn nó sẽ còn thăng hoa trong nhiều năm tới.

“Trời sáng rồi ta ngủ đi thôi” có nước phim mơ màng, những khung hình Sài Gòn thi vị và những bản nhạc indie tĩnh lặng, man mác

Tất nhiên, không nhất thiết phải tạo nên những tác phẩm hoành tráng, cầu kỳ, những tác phẩm hướng tới giải thưởng danh giá mới là tham vọng. Có những tham vọng bé nhỏ hơn, chẳng hạn như những nhà làm phim độc lập Việt Nam lặng lẽ làm ra những tác phẩm bình dị, đơn thuần, mô tả thế giới như nó vẫn là, tỉ mỉ mà không hề sặc sỡ. “Trời sáng rồi ta ngủ đi thôi” có nước phim mơ màng, những khung hình Sài Gòn thi vị và những bản nhạc indie tĩnh lặng, man mác. Những thước phim ấy không hề có tham vọng trở thành một cú hit, một tác phẩm đình đám, nó chỉ tồn tại trong dòng chảy của riêng mình. Và bất chấp những khó khăn của việc làm phim độc lập ở Việt Nam, các nhà làm phim trẻ vẫn miệt mài lao động, để khán giả không bao giờ quên rằng điện ảnh không phải lúc nào cũng là một đại tiệc hoành tráng và mãn nhãn, có khi nó chỉ là cuộc đời, yên lành và trong trẻo.

Âm nhạc mùa thu: Hoài niệm và ngọt ngào

Taylor Swift tái tạo chính mình bằng năng lượng tình yêu mới.

Mùa thu bắt đầu với sự ra đời của “Lover” về một Taylor Swift chan chứa yêu đương, đó như dấu hiệu tốt lành cho một mùa âm nhạc có sự trở lại của những ngôi sao ta yêu mến.

“Wake me up when September ends”, hãy đánh thức tôi khi tháng 9 tàn, đó là tên “thánh ca” mùa thu mà ban nhạc Green Day đã sáng tác. Thế mà khi tháng 9 còn chưa kịp qua đi, thì Green Day sau nhiều năm không phát hành sản phẩm mới đã bất ngờ trở lại với ca khúc “Father of all motherfuckers” với đầy đủ phẩm chất của những bản nhạc punk rock từng đưa họ tới đỉnh cao trong “American idiot” hay “Dookie”, và chưa hết, họ còn hứa hẹn về một album mới vào đầu năm 2020.

Green Day bất ngờ trở lại với ca khúc “Father of all motherfuckers”

Và cả nàng thơ một thời của nỗi sầu mùa hè, Lana Del Rey cũng xuất hiện trở lại vào mùa thu, với album “Norman fucking rockwell!” đan xen những bản tình ca thê thiết như cô vẫn thường vậy, những tuyên ngôn về chính trị không lên gân, không ồn ào nhưng đầy suy nghiệm, những giấc mơ chua chát của nước Mỹ hào hoa mà phản địa đàng. “Norman fucking rockwell!” thực sự là một sản phẩm đỉnh cao của Lana Del Rey, hay nói như nhà báo Jean Pelly trên Pitchfork (dù sự tâng bốc có thể hơi quá), nó “xác lập Del Rey như một trong những nhạc sĩ vĩ đại nhất còn đang sống của nước Mỹ”.

“Norman fucking rockwell!” thực sự là một sản phẩm đỉnh cao của Lana Del Rey.

Với người hâm mộ nhạc Việt, mùa thu cũng sẽ dịu dàng với phiên bản mới của “Tám chữ có”, ca khúc được Lê Cát Trọng Lý mang tới tận châu Phi để quay MV trên những đồng cỏ xavan hay dưới những cây bao báp khổng lồ, còn Hà Anh Tuấn sẽ mang những bản tình ca trong liveshow “Truyện ngắn” từ Hội An ra Sài Gòn và Hà Nội.

Hà Anh Tuấn miệt mài với những show diễn.

Truyền hình mùa thu: Vương vấn và tri ân

Không hẹn mà gặp, cả trên thế giới và ở Việt Nam, mùa thu năm nay đều nhuốm một màu vương vấn khi khán giả phải nói lời chia tay với những tác phẩm họ yêu mến.

Sau hơn 80 tập phim “Về nhà đi con”, khán giả màn ảnh nhỏ Việt Nam vẫn có thể gặp lại những câu chuyện gia đình với motif quen thuộc trong “Hoa hồng trên ngực trái”, từ cuộc sống cay đắng của những nhân vật nữ, sự nhu nhược của những nhân vật nam, chuyện tình tay ba lằng nhằng phức tạp kéo dài từ tập này sang tập khác. Có lẽ, người ta vẫn chưa sẵn sàng để quên “Về nhà đi con”, và việc VTV trình chiếu một bộ phim với nội dung mang nhiều điểm tương đồng giống như một cách níu kéo những cảm xúc còn sót lại từ bộ phim trước đó.

“Hoa hồng trên ngực trái” truyền đi thông điệp nữ quyền: phụ nữ hoàn toàn có thể đứng dậy sau đổ vỡ hôn nhân.

Truyền hình miền Nam cũng háo hức với “Tiếng sét trong mưa”, một dự án có kinh phí lên tới 10 tỷ đồng, quay trong 2 năm, dựng lại một vở cải lương kinh điển từng làm rúng động xã hội Trung Quốc những năm đầu thế kỷ 20 do kịch tác gia Tào Ngu sáng tác, vở “Lôi Vũ”. “Lôi Vũ” là một tấn kịch gia đình tréo ngoe, một tác phẩm dữ dội về báo ứng, nhân quả, tình yêu, tội ác. Ở đó, tất cả các nhân vật cuối cùng đều chỉ là tốt thí trên bàn cờ số phận. Một cốt truyện tầng tầng lớp lớp và đầy chất liệu để chuyển thể thành phim nhiều tập. Và với những chia sẻ về quá trình làm phim đầy kỳ công, “Tiếng sét trong mưa” có thể ít nhiều tạo nên một dấu mốc mới cho truyền hình miền Nam.

“Chernobyl” làm về thảm họa hạt nhân và cũng là thảm họa nhân tính của thế kỷ 20.

Trong khi ấy, ở Mỹ, giải thưởng Emmy danh giá cho lĩnh vực truyền hình vừa diễn ra trong những ngày cuối tháng 9, vinh danh những tác phẩm để lại quá nhiều dư âm cho khán giả. Đó là “Chernobyl” – bộ phim 5 tập về thảm họa hạt nhân nhưng cũng là thảm họa nhân tính kinh hoàng của thế kỷ 20, dằn vặt lương tâm con người về câu hỏi “cái gì là sự thật?”. Đó là phần khép lại loạt phim “Games of Thrones”, dù không xuất sắc như kỳ vọng nhưng xét cho cùng, sau chừng ấy mùa phim, sau chừng ấy những cảm xúc mà nó đã từng đem đến, khi nó đi tới dấu chấm sau cùng, nó cũng vẫn đáng được tri ân.

“Game of Thrones” được vinh danh lần cuối cùng tại Emmy.

Và đó là cái kết có hậu để mở đầu một mùa thu với những hành trình mới.

Ngày âm nhạc chết đi: khi phần nhìn lấn át phần nghe

Bài viết nổi bật

Từ sau sự ra đời của truyền hình và những phương tiện nghe nhìn, diện mạo âm nhạc đã thay đổi hoàn toàn. Những trải nghiệm âm nhạc thực sự mở rộng biên giới vượt khỏi thính giác, trở thành câu chuyện của cả thị giác. Người ta bắt đầu thích xem nhạc hơn là nghe nhạc. Nghe khó tin ư? Nếu xét theo số liệu của Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Quốc tế IFPI năm 2018 thì lượt xem video âm nhạc trên YouTube nhiều hơn lượt nghe nhạc của tất cả các nền tảng nghe nhạc trực tuyến cộng lại.

Hình ảnh lấn lướt những thanh âm

Sự phát triển thần tốc của MV trong vài chục năm qua có lẽ là sự đáp lại tất yếu dành cho nhu cầu của thính giả. Song cũng như MTV – kênh truyền hình đã tạo động lực đưa video âm nhạc trở thành yếu tố không thể thiếu trong công nghiệp ghi âm nhưng giờ đây chính nó cũng dẹp âm nhạc xuống hàng thứ yếu để nhường chỗ cho những chương trình tạp kỹ và truyền hình thực tế ăn khách, dường như một điều gì đó mang tính bản thể trong âm nhạc đang biến mất dần. Hình ảnh và vẻ bề ngoài ngày càng lấn lướt những thanh âm, nhất là trong những thị trường âm nhạc non nớt, lung lay tới tận gốc rễ, mà Việt Nam là một ví dụ điển hình.

Năm 2016, Soobin Hoàng Sơn phát hành “Phía sau một cô gái”, xoay vần hoàn toàn sự nghiệp âm nhạc của mình. Tính đến nay, ca khúc này đã đạt tới hơn 224 triệu lượt nghe qua lyrics video trên YouTube và hơn 390 triệu lượt nghe trên Zing MP3.

Năm 2016, Soobin Hoàng Sơn phát hành “Phía sau một cô gái”, xoay vần hoàn toàn sự nghiệp âm nhạc của mình. Tính đến nay, ca khúc này đã đạt tới hơn 224 triệu lượt nghe qua lyrics video trên YouTube và hơn 390 triệu lượt nghe trên Zing MP3. Vậy mà, Music Video (MV) của nó được phát hành sau đó lại chỉ đạt được lượt xem trên YouTube chưa bằng số lẻ của lyrics video. Quá u uất, lệch pha so với tưởng tượng, diễn xuất đơ cứng, đó là những gì người ta nói về MV “Phía sau một cô gái”. Sự thất bại của một MV, bỗng nhiên, lại bị coi là cú chững lại của một ca sĩ, điều đó cũng chẳng khác việc đánh giá thấp một bộ phim vì trailer hay poster của nó không bắt mắt là mấy. Nhưng ở Việt Nam là như thế, MV là một cán cân công lý minh định sức nóng sự nghiệp của người làm nhạc.

Trong khi đáng ra chỉ là một phần của sản phẩm âm nhạc, cuối cùng MV lại trở thành tất cả. Ngược lại, ca khúc hay bản ghi âm từ linh hồn giờ đây teo bé thành một phần phụ của MV, so ra thì chẳng quan trọng gì hơn áo quần và cốt truyện trong MV đó. Đến mức mà, ở Việt Nam, người ta chuyển sang phê bình… MV, tỉ như cho “Anh ơi ở lại” của Chi Pu 7 điểm, rồi “Hãy trao cho anh” của Sơn Tùng M-TP thì được 7,5 điểm.

Soobin Hoàng Sơn không thể leo lên đỉnh cao nhất của sự nghiệp chỉ vì hiệu ứng đi xuống của MV “Phía sau một cô gái”

Đây là một sự lạ, bởi ngay cả những trang báo hàng đầu về văn hóa nói chung và âm nhạc nói riêng như Rolling Stones, Pitchfork, NME, The Guardian, Variety… hay những nền tảng đánh giá như Metacritic, chưa ở đâu chấm điểm MV cả. Họ chỉ chấm điểm album hay liveshow, đến cả bài hát còn hiếm khi.

Vậy thì vai trò của một MV là gì mà lại được tập trung đầu tư nhiều đến thế? Thậm chí, rất nhiều nghệ sĩ còn coi MV là chiến lược phát triển chủ chốt cho con đường âm nhạc?

MV không phải là cốt lõi của âm nhạc

MV có lịch sử gần trăm năm, từ những năm 1920 – khi phim tiếng ra đời, với tiền thân là những bộ phim ca nhạc. Dẫu vậy, phải tới khoảng thập niên 60, thập niên bùng nổ về âm nhạc và truyền hình giải trí thì những MV thực sự mới được định hình. The Beatles có lẽ là những người đầu tiên có một chiến lược dài lâu với video ca nhạc, bắt đầu từ thành công ngoài sức tưởng tượng của bộ phim âm nhạc “A hard day’s night”, vốn dĩ được làm ra để quảng bá cho album cùng tên. Và đến “Strawberry fields forever”, The Beatles đã tạo nên một chuẩn mực cho nền công nghiệp âm nhạc sau này, khi video âm nhạc của họ không chỉ là những hình ảnh đi kèm ca khúc, mà tự thân nó là một tác phẩm avant-garde với những sắp đặt bất thường và thủ pháp quay mang tính thể nghiệm. Cũng từ đây, MV có một đời sống riêng, không hẳn là tách rời khỏi bản ghi âm, nhưng cũng không còn là sản phẩm đính kèm nữa.

Bộ phim âm nhạc “A hard day’s night”, được làm ra để quảng bá cho album cùng tên của The Beatles

Sau đó thì không cần kể nhiều, MTV ra đời, đánh dấu sự lên ngôi của MV. Không thể nói MV không phải một sản phẩm nghệ thuật. “Thriller” của Michael Jackson thậm chí còn được đưa vào Viện lưu trữ phim Quốc gia Hoa Kỳ bởi giá trị đặc biệt mang tính văn hóa – lịch sử – thẩm mỹ, tức là xếp chung cùng những kiệt tác điện ảnh như “Cuốn theo chiều gió”, “Công dân Kane”. Và rồi có rất nhiều đạo diễn lớn đã bắt đầu khởi nghiệp từ đây. Trước khi làm “Fight club”, “The curious case of Benjamin Button”“The social network”, David Fincher từng làm MV cho Michael Jackson, Madonna, Aerosmith. Còn Lasse Hallström, trước khi nhận đề cử Oscar cho “My life as a dog”, ông khởi nghiệp với công việc làm MV cho ABBA. Đến cả khi MTV đã đi xuống thì MV cũng không tàn lụi, nó chỉ chuyển sang một vòng đời mới còn dồi dào sức sống hơn: YouTube.

Mặc dù vậy, ngay từ buổi sơ khởi của mình, MV đã được định dạng vai trò là công cụ truyền thông và quảng bá nhằm thúc đẩy doanh số bán ca khúc và album. Chưa bao giờ khác, dù cho kỹ xảo làm MV có đi xa tới mức nào. Cốt lõi của âm nhạc vẫn luôn luôn là âm nhạc, như giải Grammy chẳng hạn, những hạng mục cao quý nhất là “Album của năm”, “Ghi âm của năm”, và Viện Hàn lâm cũng chẳng quan tâm liệu MV của các ca khúc đề cử tại hạng mục này hay hay dở, thậm chí không có MV cũng chẳng sao.

“Thriller” của Michael Jackson có công mở ra thời đại nhạc hình

Để làm rõ thêm, cũng phải nói rằng không thể nói MV không bán được. Với những siêu sao ca nhạc, cái gì họ cũng bán được, đến áo in mặt mình còn bán được, cho nên chẳng tội gì họ không bán cả MV. Như nghệ sĩ nhạc rock Bryan Adams, sau khi cho khán giả xem miễn phí các video âm nhạc chán chê, ông tổng hợp một loạt các video ca nhạc lại trong một album mang tên “So far so good”, và bán tới hơn 13 triệu bản trên toàn cầu.

Nhưng trong nền âm nhạc Việt Nam hiện nay, bán album còn khó, bán video album chắc là một chuyện không tưởng, và như thế, MV vẫn là sự cho không, vẫn chẳng có thị trường nào được tạo ra. Các nghệ sĩ “muốn qua sông phải lụy đò”, họ vẫn phải chịu sự chi phối quá lớn từ những nhà tài trợ. Âm nhạc vì thế mà ngày càng méo mó.

“Despacito” trở thành ca khúc được phát trực tuyến nhiều nhất mọi thời đại, với lượt xem từ YouTube chiếm đa số

Sự biến dạng của MV, sự biến dạng của âm nhạc

Ở phương Tây, có hai ngày từng được gọi là “ngày âm nhạc chết đi”, một là ngày chiếc phi cơ chở Buddy Holly, Ritchie Valens và The Big Bopper gặp tai nạn cướp đi sinh mạng của cả ba huyền thoại rock, và hai là ngày John Lennon bị ám sát. Còn ở Việt Nam, “ngày âm nhạc chết đi” có lẽ rất nhiều và ngày càng xuất hiện dồn dập hơn.

Không có một thị trường nghe đúng nghĩa, nghệ sĩ buộc phải lấp đầy sự nghiệp âm nhạc của mình bằng phần nhìn. Với chi phí sản xuất đắt đỏ lên đến 500 triệu tới 1 tỷ đồng, mỗi MV là một mảnh đất màu mỡ cho các nhãn hàng. Chỉ cần tài trợ một khoản tiền tương đối là thương hiệu có thể lồng ghép, kiểm soát thông điệp của MV. Mối quan hệ cộng sinh này chẳng có gì nguy hại cho đến khi cán cân giữa nghệ thuật và tiền bạc bị nghiêng hẳn về một bên.

Hồ Ngọc Hà triệt tiêu nghệ sĩ tính của mình bằng một sản phẩm tràn ngập quảng cáo

Kết quả cho ta một sản phẩm như “Vẻ đẹp 4.0” của Hồ Ngọc Hà, khi từ nội dung bài hát cho tới kịch bản MV đều phục vụ nhu cầu bán dịch vụ của nhà tài trợ. Dạo gần đây, tưởng như Tiki đã thống trị cả thị trường MV Việt, khi mà từ nam chính trong MV “Đừng yêu nữa, em mệt rồi” của Min đến nhân vật bạn gái của Erik trong MV “Anh ta là sao?”, rồi nàng Cám Chi Pu trong MV “Anh ơi ở lại?” và hằng hà sa số các nhân vật khác, dù trong bối cảnh MV hết sức khác nhau, không loại trừ cả cổ trang, mỗi người đều được dúi vào tay một gói hàng của Tiki với thông điệp “cần là có ngay”.

Không phải MV quốc tế không có quảng cáo, thậm chí MV quốc tế còn quảng cáo nhiều hơn gấp bội lần so với MV của các ca sĩ Việt Nam. Đếm sơ sơ trong “Telephone” của Lady Gaga cũng có tới chục nhãn hàng xuất hiện, nhân vật trong MV của cô đeo tai nghe HeartBeats, dùng điện thoại Virgin, máy tính HP, cuốn tóc bằng những lon Coke Diet… Âm nhạc quốc tế thương mại hóa tới mức các ca sĩ còn bán các suất đưa tên sản phẩm vào lời bài hát. Việc văn hóa pop sáp nhập cùng chủ nghĩa tiêu dùng và các siêu tập đoàn đã sớm được dự đoán từ khi Andy Warhol đặt bút vẽ những hộp sốt cà chua Campbell. Xem “What do you mean?” của Justin Bieber, người ta sẽ không bao giờ có cảm giác đó là một MV quảng cáo cho Calvin Klein. Hay nhận diện thương hiệu của Beats by Dre và son dưỡng môi EOS chỉ góp vào một phần rất nhỏ trong “We can’t stop” của Miley Cyrus.

Lady Gaga mang rất nhiều quảng cáo vào MV nhưng vẫn trao cho ca khúc của mình một diện mạo riêng

Nhưng cho dù các nghệ sĩ ấy đưa vào MV thật nhiều thương hiệu quảng cáo, thì phần thu âm của ca khúc vẫn có một đời sống rất riêng trong âm nhạc: tạo nên doanh số vật lý, xuất hiện trên radio, tồn tại trong các nền tảng nghe nhạc trực tuyến để mang lại lợi nhuận cho ca sĩ.

Còn tại Việt Nam, có cảm tưởng như rất lâu rồi, tất cả khái niệm âm nhạc chỉ được gói gọn trong MV. Ngày càng nhiều kỷ lục được thiết lập. Vô số cái tên tạo “trend”. Trong mắt khán giả giờ đây, âm nhạc phải là loại hình được thưởng thức trực quan chẳng khác gì phim ảnh. Còn đối với ca sĩ, một bài hát mà không có MV kèm theo thì cũng không được tính là một sản phẩm âm nhạc nữa.

Thời đại của những ca khúc độc lập với sức sống dai dẳng được nuôi dưỡng trong những thiết bị phát nhạc đơn thuần đã nhanh chóng bị thay thế bằng một thời đại của YouTube, của kịch bản drama, của meme ảnh chế, của nội dung viral… Việc mượn MV cho mục đích quảng cáo lộ liễu, đó không thể là lời ngụy biện để các nghệ sĩ đánh tráo khái niệm về âm nhạc.

Âm nhạc không thể nào là âm nhạc nếu chỉ đóng vai phụ trên sân khấu đáng ra là của nó.

“The King’s Man”: bộ phim hé lộ nguồn gốc tổ chức Kingsman

Bài viết nổi bật

Sau thành công vang dội của cả 2 phần phim, hãng Fox tiếp tục lên kế hoạch dài hạn cho thương hiệu, bao gồm cả phần tiền truyện “The King’s Man” (Tựa Việt: Kingsman: Khởi Nguồn). Mới đây, bộ phim đã tung trailer cực hấp dẫn và kịch tính với câu chuyện về nguồn gốc của tổ chức điệp viên Kingsman.

Poster phim tiền truyện “The King’s Man”

Trong hai phần phim đầu tiên, người hâm mộ được biết đến Kingsman là một tổ chức điệp viên độc lập không thuộc chính phủ với nguồn tài lực dồi dào và các chương trình huấn luyện khắc nghiệt. Những bí mật của tổ chức cũng dần được hé lộ qua nhiều cuộc chiến với các tổ chức tội phạm sừng sỏ. Với phần tiền truyện “The King’s Man” sắp tới, ẩn số về quá khứ của Kingsman cuối cùng cũng được vén mời.

“The King’s Man” đưa người xem trở về thời kì Thế Chiến I đen tối nhất lịch sử nhân loại.

Lấy bối cảnh thời Thế chiến I, một tổ chức gồm những tên bạo chúa và tội phạm ra đời với âm mưu tạo ra một cuộc chiến tranh nhầm xóa sổ mang sống của hàng triệu người dân vô tội. Đây cũng là lúc những người anh hùng phải chạy đua với thời gian để ngăn cản âm mưu tàn bạo này. Đoạn trailer dài hơn 2 phút đã đưa người xem trở về một trong những thời kì đen tối với cuộc chiến tàn khốc bậc nhất nhân loại.

Phim là hành trình khai sinh ra tổ chức Kingsman nổi tiếng.

Không chỉ bị che phủ bởi hàng loạt âm mưu chính trị và tham vọng đen tối, cuộc chiến này còn đánh dấu sự ra đời của hàng loạt vũ khí hủy diệt mới như súng máy, xe tăng, chất độc hóa học,… Phim là câu chuyện về sự ra đời của tổ chức điệp viên ấn tượng bậc nhất màn ảnh rộng với dàn diễn viên tên tuổi như Ralph Fiennes, Gemma Arterton, Rhys Ifans, Matthew Goode, Charles Dance,…

“The King’s Man” giữ nguyên được chất hành động như hai phần đầu tiên.

Ngoài ra, bộ phim còn có sự trở lại của đạo diễn Mathew Vaughn – người cầm trịch hai phần đầu tiên cùng nhiều dự án đình đám như “Kick-Ass” (2010), “X-Men: First Class” (2011),… – và biên kịch Karl Gajdusek của “Stranger Things” (2016) mùa đầu tiên.

Với nội dung cuốn hút cùng hàng loạt nút thắt bí ẩn, sự góp mặt của dàn diễn viên hoành tráng cũng như chất hành động bạo lực và yếu tố hài hước, “The King’s Man” hứa hẹn tiếp nối thành công của thương hiệu và là bom tấn đáng xem bậc nhất dịp đầu năm 2020.

Đẹp 249: True Beauty – Vẻ đẹp đính thực hướng sâu nội tâm

Bài viết nổi bật

Lần đầu tiên khái niệm True Beauty được Đẹp khai thác theo khía cạnh này: một góc nhìn hướng sâu hơn vào nội tâm, ước mơ, trái tim bao dung với cuộc đời và niềm vui sống không ngừng cháy trong lồng ngực những con người không hoàn hảo – theo ý nghĩa thông thường của sự hoàn hảo – về ngoại hình. Khiếm khuyết không phải là mất mát, hóa ra, nó lại làm cuộc sống trở nên đầy đặn hơn.

1. Feature

Cuộc đời sẽ ra sao nếu bỗng một ngày ta khuyết đi một phần cơ thể? Với 4 khách mời của Đẹp, “bất hạnh là một tài sản”, khiếm khuyết là bệ phóng kỳ diệu giúp họ đứng lên viết tiếp những chương đẹp nhất cho cuốn sách cuộc đời tưởng chừng đã dang dở bằng nghị lực gấp trăm, gấp ngàn lần so với người bình thường. Không có vẻ đẹp hoàn hảo theo khía cạnh thông thường nhất của sự hoàn hảo, nhưng họ có một trái tim đầy ắp niềm vui, ước mơ và lòng bao dung với cuộc sống.

Giống như một vạch mốc đánh dấu chặng đường 20 năm đã qua, chuyên đề True Beauty số này là lời khẳng định một lần nữa điều mà Đẹp chưa bao giờ ngừng tâm niệm: luôn đồng hành cùng vẻ đẹp đích thực.

2. Fashion

Những sáng tạo cuối cùng của “ông hoàng đầu bạc” Karl Lagerfeld dành cho Chanel được ê-kíp Đẹp lột tả sống động qua những khung hình thực hiện ở vùng đất Phật. Trong không gian ghi đậm dấu ấn làng Việt cổ và kiến trúc cung điện đời Trần, các thiết kế Thu Đông 2019 của Chanel nổi bật với gam màu tươi trẻ và chất liệu ấm áp.

3. Beauty

Với chiều cao 1m88, Quang Đại khởi đầu với nghề người mẫu, sau đó trở thành ông chủ của một chuỗi cửa hàng cà phê, quán ăn, quán rượu… ở Sài Gòn, một travel blogger và một hình mẫu lý tưởng cho thế hệ trẻ có tri thức, đầy nhiệt huyết với cuộc sống.

Trong mục Beauty Talks số này, Quang Đại sẽ kể hết những điều làm nên vẻ ngoài chỉn chu, lịch lãm như thỏi nam châm thu hút 670.000 người follow anh trên mạng xã hội. Tuy cầu toàn, thật ra Đại lại rất đơn giản.

4. Chat

Quan điểm của ViruSs về vật chất, tình yêu, vai trò giữa đàn ông và phụ nữ trong gia đình có thể khiến tất cả bất ngờ. Khá khó tin khi năm 2019 lại có một chàng thanh niên tự hào nhận mình là người “rất gia trưởng”, “ai yêu tôi phải cam chịu” và “không muốn đụng đến những việc nhỏ trong nhà”.

Nhưng hóa ra chuyện gì cũng có lý do. Tư tưởng đó của anh xuất phát từ một nỗi ám ảnh: biến cố phá sản khiến ông bà ngoại không có nổi một chỗ nằm yên ổn khi qua đời. Kí ức giống như một cú sốc điện khiến ViruSs lao đầu vào công việc từ kinh doanh đến nghệ thuật, với áp lực một trụ cột phải giữ cho gia đình mình không bao giờ rơi vào cảnh khó khăn một lần nữa.

Hơn 365 ngày sau khi đăng ký kết hôn và 3 lần trì hoãn, Justin Bieber và Hailey chính thức tổ chức đám cưới

Bài viết nổi bật

Hơn một năm sau khi đăng ký kết hôn, Justin Bieber và Hailey cũng đã tổ chức hôn lễ, sau ba lần bị hoãn.

Lễ cưới của Justin Bieber và Hailey được diễn ra vào tối ngày 30/9 (theo giờ địa phương), tại khu resort đẳng cấp Montage Palmetto Bluff ở Bluffton, Nam Carolina.

Mới đây, tờ DailyMail vừa tiết lộ những hình ảnh mới nhất về đám cưới của Justin Bieber và Hailey. Cặp đôi ăn mặc đơn giản cùng tận hưởng bữa tiệc cocktail với gia đình và bạn bè thân thiết trước khi cử hành hôn lễ vào tối nay.
Khác với dự đoán của nhiều người, ngày trọng đại của Justin không ồn ào hay quá khoa trương, chỉ có 36 người được mời tham dự.
Dù bữa tiệc chỉ diễn ra trong một khoảng không gian nhỏ của resort nhưng Justin đã bao trọn Montage Palmetto Bluff để đảm bảo hôn lễ riêng tư hết mực có thể.
Trước đó, ngày 25/09. Hailey đã tổ chức bữa tiệc chia tay cuộc sống độc thân. Theo mô tả của những người chứng kiến, bữa tiệc được mở màn tại Ysabel trước khi bạn bè cô dâu tiếp tục tiệc tùng tại hộp đêm Delilah, nơi Hailey đeo một chiếc khăn che mặt mới lạ và bộ trang phục màu trắng cô dâu.

Cặp đôi đã hoãn đám cưới 3 lần trước khi tổ chức hôn lễ vào ngày 30/09. Theo kế hoạch, ngày trọng đại sẽ được tổ chức vào tháng 1 nhưng không thể diễn ra do nam ca sĩ gặp nhiều vấn đề sức khỏe, tâm lý. Cặp đôi quyết định dời ngày cưới sang 28/02, lần này lý do bị hoãn vì thời gian gấp rút nên không kịp chuẩn bị. Justin và Hailey dự định cử hành hôn lễ vào tháng 3 thì vài người họ hàng của cả hai không thể có mặt tại Los Angeles trong dịp này.
Suốt một thời gian dài, cuộc hôn nhân của Justin và Hailey như một vở kịch trên sân khấu khi liên tục bị công chúng soi mói. Điều này, khiến cả hai chịu nhiều áp lực. Trả lời phỏng vấn tạp chí Vogue, Justin chia sẻ: “Chúng tôi không muốn mất nhau và không muốn nói sai bất kỳ điều gì. Vì vậy cả hai đã phải vật lộn với việc không thể hiện cảm xúc của mình. Điều này thật sự khiến tôi phát điên vì ai cũng biết tôi là người luôn muốn bộc lộ tình cảm dành cho người phụ nữ mình yêu.”
Riêng Hailey cũng phải đấu tranh với những bình luận tiêu cực trên mạng xã hội. Đối với nhiều người, cô dường như mờ nhạt trong cuộc tình gần mười năm giữa Justin và Selena. Vậy nên đại đa số đều cho rằng việc cô trở thành vợ của Justin chỉ là cái cớ để anh làm Selena hờn ghen và chẳng mấy chốc, cô cũng nhanh chóng chìm vào danh sách người tình đã dài hơn con số 20 của chàng ca sĩ 23 tuổi.
Dù vào ngày 15/11/2018, chính Justin là người xác nhận tình trạng mối quan hệ của mình. Ngôi sao nhạc Pop đã công bố một bức ảnh cả hai tay trong tay trên Instagram với chú thích đơn giản: “Vợ tôi là người tuyệt vời”. Trước đó, cả hai đã đăng ký kết hôn ở New York vào ngày 13/09.
Justin Bieber
Hailey luôn khẳng định tình cảm mà cô dành cho Justin chẳng hề kém cạnh “người tình thập kỷ” Selena. “Tôi đã cầu nguyện để cảm thấy bình yên về quyết định của mình, tôi rất yêu anh ấy. Tôi đã yêu anh ấy từ lâu”, nàng mẫu nói. Hơn một năm trôi qua, kể từ khi Justin và Hailey tái hợp và chính thức về chung một nhà. Hôn lễ hôm nay như một minh chứng, chàng trai bồng bột với những cuộc yêu đương chớp nhoáng khi xưa nghiêm túc với mối quan hệ này. Và đã đến lúc công chúng phải thừa nhận rằng, Justin và Hailey thật sự dành cho nhau.