Daniel Radcliffe: Từ cậu bé phù thủy Harry Porter đến tù nhân vượt ngục

Mặc dù trở thành ngôi sao điện ảnh khi tuổi đời vẫn còn quá trẻ, nhưng Daniel Radciffe đã chứng tỏ mình là một diễn viên tài năng, đi lên bằng thực lực chứ chẳng hề dựa dẫm vào may mắn. Qua màn hóa thân ấn tượng ở “Phi Vụ Đào Tẩu”, anh sẽ tiếp tục khẳng định điều đó với cộng đồng yêu phim.

Nhắc đến cái tên Daniel Radcliffe, khán giả đại chúng thường nghĩ ngay tới nhân vật Harry Potter, chàng phù thủy trường Howard từng gây sốt cả giới văn học lẫn màn ảnh lớn. Tuy nhiên, hầu hết bọn họ đều lầm tưởng rằng, ngoài vai diễn kinh điển kể trên, thì chàng thanh niên ở độ tuổi tam tuần này chẳng có thành tựu nổi bật nào khác. Vì vậy, hãy cùng điểm lại chặng đường hoạt động nghệ thuật của nam tài tử để thấy, anh thực sự là viên ngọc quý nơi làng điện ảnh xứ sở sương mù.

Harry Potter bước ra từ những trang sách

Năm 1999, trong TV mini – series “David Copperfield”, Daniel Radcliffe đã bắt đầu sự nghiệp diễn xuất bằng màn hóa thân thành vị ảo thuật gia thuở bé. Nhờ nét diễn tự nhiên, cậu nhóc 10 tuổi sớm lọt vào mắt xanh của Chris Columbus, người đang chuẩn bị cầm trịch bộ phim “Harry Potter and the Sorcerer’s Stone” (2001). Tất nhiên, dù rất ưng ý về Daniel, ông vẫn thực hiện khâu casting kỹ lưỡng nhằm đảm bảo rằng, mình không bỏ sót những ứng viên hoàn hảo khác.

phim phi vu dao tau - 1

Trải qua nhiều vòng sát hạch gắt gao, Daniel Radcliffe lần lượt đánh bại vô số đối thủ nặng kí rồi giành lấy vai diễn một cách thuyết phục. Không chỉ làm hài lòng toàn thể ekip và nữ nhà văn J. K. Rowling, lúc công bố dự án, anh chàng còn khiến cả giới phê bình, fan văn học lẫn công chúng sửng sốt bởi ngoại hình, thần thái giống hệt miêu tả trong truyện gốc. Sở hữu doanh thu thuộc hàng kỉ lục thời bấy giờ (976 triệu USD), “Harry Potter and the Sorcerer’s Stone” lập tức tạo nên cú hít trong ngành điện ảnh, cũng như đưa tên tuổi Daniel cùng cô bạn Emma Watson đến với khán giả toàn cầu.

Người nghệ sĩ bản lĩnh trên sân khấu lớn

Khác hẳn các ngôi sao nhí đồng trang lứa, Daniel Radcliffe gây bất ngờ bởi quyết định thử sức cùng lĩnh vực kịch nghệ. Đặc biệt, vào năm 17 tuổi (2008), chàng trai trẻ từng khiến người hâm mộ sững sờ khi đóng vai Alan Strang, gã thanh niên tôn sùng loài ngựa hệt đấng tối cao trong vở chính kịch “Equus”.

Sẵn sàng phô bày cơ thể trước mặt hàng ngàn người xem, màn trình diễn đầy táo bạo của anh đã đón nhận cơn mưa lời khen từ các nhà phê bình khó tính. Tiếng vang mà “Equus” tạo ra thậm chí còn lớn tới mức, vở kịch liền được Sân Khấu Broadway tái diễn ngay sau đó, đồng thời đem về cho Daniel Racliffe một đề cử Drama Desk ở hạng mục “Nam Nghệ sĩ (Kịch) Xuất sắc Nhất“.

phim phi vu dao tau - 2

Thừa thắng xông lên, năm 2011, anh chàng tái ngộ khán giả tại thánh đường Broadway qua vở nhạc kịch “How To Succeed in Business Without Really Trying”. Hóa thân thành tay thợ lau kính lắm mưu nhiều kế J. Pierrepont Finch, Daniel Radcliffe làm giới mộ điệu phải kinh ngạc khi khoe chất giọng cao vút, thực hiện những bài vũ đạo khó nhằn chẳng chút kém cạnh nhóm bạn diễn chuyên nghiệp. Tác phẩm nhanh chóng nhận được 6 đề cử Tony danh giá, riêng nam tài tử thì bỏ túi thêm một đề cử Drama Desk tương tự như trên.

phim phi vu dao tau - 3

Hai năm sau, Daniel lại khuấy động sân khấu với vở bi hài kịch “The Cripple of Inishmaan” (2013) – đứa con tinh thần nổi tiếng do kịch tác gia Martin McDonagh chấp bút. Sắm vai Billy Claven, chàng thanh niên mồ côi, tật nguyền sống ở hòn đảo hẻo lánh mang tên Inishmaan, anh tiếp tục chinh phục khán giả nhờ lối diễn xuất thần, khiến họ vừa bật cười nhưng cũng xót xa trước giấc mơ viển vông của nhân vật ấy: trở thành minh tinh nơi kinh đô điện ảnh Hollywood.

Kẻ cháy hết mình vì đam mê nghệ thuật

Trở lại sự nghiệp điện ảnh hậu “Harry Potter”, nam tài tử đang hướng đến các bộ phim độc lập, có kinh phí thấp nhưng sở hữu câu chuyện hoàn toàn mới mẻ. Thực chất, hồi còn sắm vai nam sinh trường Howard, cậu ta đã nhận lời tham dự các dự án khác biệt, chú trọng khai thác tâm lý nhân vật như “December Boys” hay phim truyền hình “My Boy Jack” (2007). Vì vậy, nếu là fan ruột của Daniel, bạn sẽ không quá ngạc nhiên lúc trông thấy anh ấy xuất hiện trên phim trường với tạo hình kì lạ, thậm chí cực kì quái đản.

phim phi vu dao tau - 5

Cụ thể, xuyên suốt chặng đường diễn xuất, Daniel Radcliffe từng ghi điểm mạnh mẽ khi hóa thân thành vị luật sư góa vợ (“The Woman in Black”, 2012), nhà thơ đồng tính (“Kill Your Darling”, 2013), thanh niên mọc sừng (“Horns”, 2013) cho tới cái xác chết biết nói (“Swiss Army Man”, 2016) hay tay lập trình viên số nhọ (“Guns Akimbo”, 2019)… Gia tài nhân vật đồ sộ này đã chứng tỏ nỗ lực biến hóa đa dạng, chẳng ngần ngại làm mới bản thân của chàng tài tử sinh năm 1989.

Sắp tới, chúng ta sẽ được tái ngộ anh ta qua “Phi Vụ Đào Tẩu” (“Escape From Pretoria“), tác phẩm dựa trên câu chuyện có thật tại lục địa đen vào cuối thập niên 70. Daniel đảm nhận nhân vật Tim Jenkin, nhà đấu tranh nhân quyền Nam Phi bị chính quyền độc tài giam giữ trong nhà ngục Pretoria. Quyết tâm thoát khỏi cảnh tù đày, ông và hai người đồng đội đã thực hiện kế hoạch vượt ngục không tưởng, làm rúng động dư luận quốc tế thời bấy giờ.

Phi Vụ Đào Tẩu” (“Escape from Pretoria“) khởi chiếu trên toàn quốc kể từ ngày 9/5/2020.

 

Bài : Đẹp Online

11/05/2020, 15:18

Đâu là những tựa phim cảm động về tình mẫu tử đáng xem nhất vào Ngày của Mẹ này?

Đại thi hào lỗi lạc Robert Browning từng nói: “Tình mẫu tử là nơi tình yêu bắt đầu và kết thúc“. Những đứa trẻ khi vừa mới lọt lòng cho đến khi vững bước trên con đường sự nghiệp đều có hình bóng của người mẹ. Vì thế, hình ảnh đấng sinh thành giàu đức hy sinh, nuôi dưỡng những đứa con nên người bằng chính tình yêu thương vô bờ bến đã được các nhà làm phim khai thác trọn vẹn. Nhân Ngày của Mẹ, hãy cùng mẹ xem lại các thước phim cảm động về tình mẫu tử hay nhất những năm qua sau đây.

phim mother's day - 16

Mama Mia” (“Giai điệu hạnh phúc” – 2008): Niềm hạnh phúc lớn nhất của người mẹ là được chứng kiến con khôn lớn từng ngày

Mama Mia” được chuyển thể từ vở nhạc kịch nổi tiếng cùng tên của tác giả Catherine Johnson. Bằng góc nhìn mới mẻ và tham vọng chiếm giữ “ngôi vương” phòng vé trong dòng phim nhạc kịch mọi thời đại, nhà sản xuất Judy Craymer đã mang đến một câu chuyện bất ngờ xoay quanh hai người phụ nữ thuộc hai thế hệ cùng những người đàn ông của cuộc đời họ. Nếu như Sophie (Amanda Seyfried) dành trọn trái tim cho chồng sắp cưới – Sky (Dominic Cooper) và mong muốn tìm ra ai mới thật sự là cha ruột của mình trong số ba người đàn ông được mẹ cô nhắc đến trong nhật ký, thì mẹ của cô – Donna (Meryl Streep) thuộc tuýp người thích phiêu lưu, nhưng cuối cùng lại chọn làm một bà mẹ đơn thân để toàn tâm toàn ý chăm sóc cho con. 20 năm dành cả tuổi thanh xuân để nuôi con khôn lớn, Donna phải vừa làm mẹ, vừa làm cha. Đến khi gả con gái cho người khác, Donna nhất quyết thay cha ruột Sophie dắt tay cô tiến vào lễ đường. Trong giai điệu ca khúc “Slipping Through My Fingers” ngân vang, Donna lặng nhìn con gái rời khỏi vòng tay bảo bọc của mình.

phim mother's day - 1

Mama Mia” được xem là một trong những bộ phim nhạc kịch thành công nhất mọi thời đại không chỉ bởi cốt truyện và lối dẫn dắt lôi cuốn được kế thừa từ vở nhạc kịch ăn khách nhất lịch sử, mà còn ở màn diễn xuất tuyệt vời của dàn diễn viên thực lực cũng như bối cảnh thiên nhiên thơ mộng tại hòn đảo Kalokairi (Hy Lạp). Kết thúc đợt công chiếu, bộ phim mang về hơn 600 triệu USD và gây dựng tiếng vang lớn trong nền công nghiệp điện ảnh toàn cầu.

Mother” (“Người mẹ” – 2009): Chân dung người phụ nữ kiên cường, sẵn sàng vì con mà làm mọi thứ

Trước khi được cả thế giới thán phục khi mang về 4 giải Oscar 2020 và nhiều giải thưởng danh giá khác với phim điện ảnh “Parasite“, đạo diễn Bong Joon Ho đã từng lấy đi không ít nước mắt của khán giả màn bạc qua những tác phẩm điện ảnh mang đậm tính nhân văn từ những gia đình trung lưu nghèo khó. Trong đó, “Mother” đã từng làm “chao đảo” cộng đồng phim điện ảnh châu Á với cốt truyện mới mẻ, pha lẫn giữa chính kịch và yếu tố trinh thám ly kỳ, bí ẩn. Bộ phim mang về nhiều thành tích đáng nể, gồm có: giải Oscar 2010 ở hạng mục “Phim truyện xuất sắc nhất“, giải thưởng của Hội đồng phê bình phim Busan cho hạng mục “Nữ diễn viên chính xuất sắc” và “Quay phim xuất sắc nhất“.

phim mother's day - 2

Mother” xoay quanh hành trình tìm ra sự thật để minh oan cho Yoon Do Joon (Won Bin) – con trai của người mẹ đơn thân (Kim Hye Ja). Mặc dù đã qua 27 tuổi, nhưng trí não của Do Joon chỉ dừng lại ở một cậu bé lên 3, ngô nghê, khờ khạo. Để rồi đến một ngày, Doo Joon trở thành nghi phạm số một trong vụ án sát hại một nữ sinh trung học. Với tình yêu mãnh liệt dành cho con và trực giác của một người mẹ đã mách bảo bà rằng con trai bà hoàn toàn vô tội. Từ đó, bà quyết tâm đi tìm chân tướng sự thật và tìm ra hung thủ thật sự để cứu con trai thoát khỏi vòng lao lý.

The Kids Are All Right” (“Lũ trẻ đều ổn” – 2010): Gia đình đồng tính mở đầu cho kiểu gia đình mới của thế kỷ 21

Bộ phim xoay quanh những biến cố xảy ra trong gia đình của cặp đôi đồng tính nữ Nic (Annette Bening) và Jules (Julianne Moore) khi các con đã đến tuổi vị thành niên tìm ra cha ruột của chúng – Paul (Mark Ruffalo). Mọi rắc rối bắt đầu tìm đến mái ấm được Nic và Jules vun đắp bấy lâu vì sự xen ngang của Paul trong cách dạy dỗ con cái. Nếu như Jules là một bà nội trợ đảm đang, chăm sóc nhà cửa chu đáo thì Nic lại toát lên bản lĩnh mạnh mẽ của một trụ cột trong gia đình. Tuy lớn lên nhờ bàn tay chăm sóc của hai người mẹ nhưng hai đứa trẻ đã nhận được nhiều tình yêu thương và nếp sống chuẩn mực không thua kém các gia đình bình thường khác.

phim mother's day - 3

Sự thành công vang dội của tựa phim “The Kids Are All Right” đã mang về cho đội ngũ làm phim giải Quả Cầu Vàng ở hạng mục “Phim hài/âm nhạc hay nhất” và giúp cho nữ diễn viên Annette Berning giành chiến thắng giải Quả Cầu Vàng cho “Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất“.

Room” (“Căn phòng” – 2015): Tình yêu của mẹ phá vỡ mọi ngăn cách

Lấy cảm hứng từ một câu chuyện có thật từng làm rúng động cả thế giới về vụ án Elisabeth Fritzl tại Áo. Người phụ nữ 42 tuổi ấy bị chính cha ruột giam cầm và lạm dụng tình dục suốt 24 năm dài đằng đẳng. Nỗi đau về thể xác vì bị hành hung quá nhỏ so với việc bị lạm dụng tình dục trong suốt nhiều năm đã được nhà văn Emma Donoghue chắp bút nên cuốn tiểu thuyết “Room” và được đạo diễn Lenny Abrahamson chuyển thể thành phim.

Bộ phim xoay quanh cuộc sống bị giam cầm của hai mẹ con Jack (Jacob Tremblay) và Ma (Brie Larson) suốt 7 năm trong một căn phòng. Cậu bé 5 tuổi chỉ biết bầu bạn cùng chiếc TV trong căn phòng nhỏ hẹp, tất cả những gì Jack biết về thế giới xung quanh đều thông qua màn hình TV. Đến một ngày, hàng loạt câu hỏi về thế giới hiện hữu trong khung hình ấy càng nhiều của Jack đã khiến cho mẹ Ma quyết định làm một việc táo bạo là tìm cách đưa con thoát khỏi căn phòng u tối ấy để con tận mắt nhìn ngắm thế giới tươi sáng bên ngoài như bao đứa trẻ khác.

phim mother's day - 4

Không chỉ là tác phẩm nhằm tưởng nhớ đến các nạn nhân của nạn lạm dụng tình dục như Elisabeth Fritzl, “Room” còn ngợi ca sức mạnh của tình mẫu tử cao đẹp và sức sống mãnh liệt của con người trong nghịch cảnh. Bộ phim đã nhận được ba đề cử giải Quả Cầu Vàng 2016 cho hạng mục “Phim truyện xuất sắc -Thể loại chính kịch”, “Nữ diễn viên chính xuất sắc (cho Brie Larson) và “Kịch bản xuất sắc” (cho Emma Donoghue).

Her Love Boils Bathwater” (“Người phụ nữ nhân hậu” – 2016): Khắc họa chân dung người mẹ giản dị, mộc mạc của mọi nhà

Sẽ phải làm gì khi đối mặt với hàng tấn bi kịch diễn ra cùng một lúc? Đó là câu chuyện của người phụ nữ mạnh mẽ, kiên cương Futaba Sachino (Kie Miyazawa) trong “Her Love Boils Bathwater“. Sau khi nhận thông báo nhà tắm hơi công cộng của gia đình buộc phải đóng cửa, Futaba bàng hoàng khi nghe tin mình đang mắc bệnh ung thư phổi thời kỳ cuối. Trong những ngày tháng cuối đời, cô quyết định lên kế hoạch thu xếp ổn thỏa mọi việc trong gia đình, từ việc thuê thám tử để tìm ra người chồng mất tích, gầy dựng lại nhà tắm hơi cho gia đình cho đến tìm một người bạn trai tốt cho con gái. Nhờ sự dìu dắt và tấm lòng rộng mở của một người mẹ, cô con gái lớn Azumi Sachino (Hana Sugsaki) đã mạnh dạn bảo vệ chính mình khỏi những kẻ bắt nạt ở trường, cô con gái nhỏ (con riêng của chồng) chịu mở lòng đón nhận tình cảm người mẹ mới.

phim mother's day - 6

Bộ phim không chỉ lấy đi không ít nước mắt của khán giả, mà còn để lại sự thán phục trước đức hy sinh cao cả của người mẹ. Nhờ sự dẫn dắt tài tình của đạo diễn Ryota Nakano, “Her Love Boils Bathwater” đã mang về cho nữ diễn viên Rie Miyazawa giải “Nữ diễn viên xuất sắc nhất” và Hana Sugsaki giải “Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất” tại Japan Academy Awards 2017.

Lady Bird” (“Tuổi nổi loạn” – 2017): Bứt phá khuôn khổ quy tắc để tìm đến những điều mới lạ của tuổi trẻ

Lady Bird” kể về Christine McPherson hay được biết đến với biệt hiệu “Lady Bird”, là một cô nàng nổi loạn, muốn khẳng định cái tôi của bản thân và khước từ mọi lời nói từ chính bố mẹ của mình để làm những điều mình muốn. Lady Bird nun nấu ước mơ vượt qua bờ biển phía Đông để đến thành phố New York xa hoa, tráng lệ, một nơi khác xa với vùng đất Sacramento đầy rẫy những quy tắc, lễ nghi tôn giáo mà cô đang sinh sống. Khát vọng chinh phục những điều mới mẻ của Lady Bird như chú chim nhỏ muốn thoát khỏi chiếc lồng quy tắc để vươn đến những trải nghiệm thực tế đầu đời.

phim mother's day - 7

Bộ phim hài-chính kịch “Lady Bird” dưới bàn tay dìu dắt của vị đạo diễn Greta Gerwig đã phác họa rõ nét khát khao chinh phục tuổi trẻ của một cô bé tuổi mới lớn. Với kinh phí 10 triệu USD, bộ phim đã mang về tổng doanh thu khoảng 79 triệu USD. Không những thế, giới phê bình phim dành nhiều lời khen ngợi cho sự sáng tạo và lối dẫn dắt người xem qua những tình tiết hấp dẫn của nữ đạo diễn tài ba. Bộ phim xuất sắc mang về giải Quả Cầu Vàng ở hạng mục “Phim ca nhạc/hài hay nhất” và “Nữ diễn viên phim hài/ca nhạc xuất sắc nhất” và nhiều đề cử quan trọng ở giải Oscar lần thứ 90 và BAFTA lần thứ 71. Ngoài ra, “Lady Bird” còn được tạp chí TIME chọn là 1 trong 10 bộ phim hay nhất của năm.

The Preparation” (“Ngày không còn mẹ” – 2017): Dù không còn mẹ bên cạnh, nhưng tình mẫu tử vẫn trường tồn theo năm tháng

The Preparation” xoay quanh gia đình của bà Ae Soon (Ko Du Shim) và cậu con trai mắc bệnh thiểu năng trí tuệ In Kyu (Kim Sung Kyun). Mặc dù đã ngoài 30, nhưng In Kyu không khác một đứa trẻ và suốt ngày chơi đùa cùng mẹ. Sau khi biết mình bị ung thư não giai đoạn cuối, Ae Soon quyết định dạy cho con trai học cách sống tự lập trong những ngày cuối đời. Bà không hề oán trách số phận vì đã sinh ra một đứa con khiếm khuyết như In Kyu, mà bà oán trách cuộc đời vì đã không cho bà sống lâu hơn cùng con.

phim mother's day - 8

Bộ phim mang màu sắc nhẹ nhàng cùng những dòng cảm xúc lắng động của tình mẫu tử. “The Preparation” như một lời tri ân dành đến công ơn sinh thành, đức hy sinh và tình cảm thiêng liêng của người mẹ.

A Diamond in the Rough” (“Điều ước cuối của mẹ” – 2019): Thước phim về tình mẫu tử ngọt ngào nhưng cũng lắm bi thương

Mặc dù khai thác motif kẻ trong tù, người ở ngoài tìm cách giải cứu vốn đã quen thuộc trên màn ảnh Hàn nhiều năm qua, nhưng “A Diamond in the Rough” lại thu hút khán giả nhờ vào tình tiết lay động cảm xúc giữa mẹ và con vô cùng chân thực. Khán giả có thể nhìn thấy hình ảnh người mẹ của mình trong nhân vật Soon Ok (Kim Hae Sook) – người phụ nữ dành tình yêu vô điều kiện, đánh đổi mọi thứ để mang đến cho con những gì tốt nhất. Ki Kang là một chàng thanh niên có tiền đồ, được gia đình và người dân đặt nhiều kỳ vọng. Anh quyết định rời khỏi làng chài nghèo khó và tìm đến Seoul để thực hiện ước mơ. Thế nhưng, khi giấc mơ vẫn còn dang dở, anh lại trở thành một tội phạm lĩnh án tử hình. Người mẹ sau nghe biết tin đã tìm mọi cách để cứu con trai. Từ một người không biết chữ, bà đã phải học cách đọc, cách viết để tự tay viết bản kháng cáo vì tin rằng con trai mình vô tội.

phim mother's day - 9

A Diamond in the Rough” được xem là một trong những bộ phim hay nhất về người mẹ trên màn ảnh Hàn năm 2019. Bên cạnh những phút lắng động của tình mẫu tử, bộ phim còn phơi bày những mặt tối của xã hội hiện đại, gồm có tệ nạn xã hội, trộm cướp và nhiều thói hư, tật xấu làm đánh mất lương tâm, đạo đức của con người.

Goodbye Mother” (“Thưa mẹ con đi” – 2019): Thay lời “come-out” của cộng đồng LGBT muốn nói

Những bộ phim về chủ đề LGBT trước đây chủ yếu hướng đến sự bi kịch của các cặp đôi đồng tính, nhưng “Thưa mẹ con đi” lại mang màu sắc gần gũi, bình dị, văn minh và chân thật từ chuyện tình của cặp đôi Văn (Lãnh Thanh) và Ian (Võ Điền Gia Huy). Văn trở về quê nhà sau một thời gian dài học tập và định cư trên đất Mỹ cùng người bạn trai của mình – Ian. Vốn là “cháu nội đích tôn” của một gia đình truyền thống, Văn phải đối mặt với gánh nặng cưới vợ, sinh con nối dõi làm rạng danh tổ tiên.

Ngay từ những phút đầu tiên, khán giả có thể cảm nhận được sự tinh tế trong đôi mắt của nhân vật Hạnh – mẹ của Văn (Hồng Đào). Dường như bà đã cảm nhận được điều gì đó khác lạ trong mối quan hệ giữa Văn và Ian. Thoạt đầu bà buộc phải ép con trai cưới vợ để hoàn thành trách nhiệm với tổ tiên, nhưng sau khi nghe những lời giải bày của con trai, bà dần chấp nhận con người thật của anh và trân trọng tình yêu của anh. Bà sẵn sàng đánh đổi thanh danh, trách nhiệm để đổi lấy hạnh phúc mà con trai đáng được nhận.

phim mother's day - 10

Mặc dù khai thác đề tài phim khá nhạy cảm tại Việt Nam – đồng tính, nhưng khán giả vẫn dành sự ưu ái đặc biệt dành cho “Thưa mẹ con đi” – tác phẩm đầu tay của đạo diễn Trịnh Đình Lê Minh. Không chỉ có khán giả Việt Nam, các suất chiếu tại nước ngoài như Hàn Quốc, Đài Loan cũng nhận được phản hồi tích cực từ khán giả.

 

Đây là những tựa phim về các dịch bệnh không thể không xem

Trong khoảng thời gian “work from home” do Coronavirus/Covid-19 gây ra, nếu đang buồn chán và cảm thấy đơn điệu, hãy cùng thưởng thức và xem lại những bộ phim đình đám về chủ đề dịch bệnh “hot” nhất mọi thời đại ngay sau đây.

Train to Busan” (“Chuyến tàu sinh tử“)

Bộ phim kể về câu chuyện của một nhóm khách trên chuyến tàu từ Seoul đi Busan phải vượt qua bao gian nguy trước đại dịch xác sống để đến thành phố an toàn. 

Dựa trên motif kinh điển của những bộ phim về zombie, những nhân vật phải tìm cách chống cự trước các xác sống chỉ biết cắn giết và lây lan dịch bệnh nguy hiểm. Lấy bối cảnh khi chuyến tàu bắt đầu lăn bánh, khi những người bình thường, tiếp viên và zombie đều bị kẹt cứng trên tàu. Tất cả những hành khách đều phải tìm cách để thoát khỏi xác sống ngày một nhiều để bảo vệ tính mạng cho chính bản thân và người họ yêu thương. 

xem phim mua covid 19 - 1

Mạch phim diễn ra tự nhiên, hợp lý dẫn dắt người xem đến cao trào một cách nhẹ nhàng, không gây ức chế. “Train To Busan” cũng lập kỷ lục phòng vé vào ngày 07/08/2016 khi hơn 10 triệu vé được bán ra. Đồng thời, bộ phim cũng được công chiếu tại Liên hoan phim Cannes 2016. 

Phim với sự tham gia của các diễn viên hàng đầu xứ kim chi như Gong Yoo, Jung Ju Mi, Ma Dong Seok… 

Kingdom” (“Vương triều xác sống“)

Series phim ngắn “Kingdom” được chiếu trên Netflix xoay quanh câu chuyện tranh giành quyền lực của thái tử Lee Chang và lãnh tướng Cho Hak Ju. Lồng ghép vào câu chuyện quyền lực chốn cung đình là tình trạng dịch bệnh mang tên xác sống (đại dịch zombie) đang gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự an toàn của người dân thuộc vương triều Joseon. 

Những pha hành động tàn bạo đến nghẹt thở, hình ảnh về xác sống một cách rùng rợn và đầy chi tiết trong “Kingdom” đã thực sự khiến người xem phải “nổi da gà” và không ngừng thán phục. Bộ phim cũng được ra mắt vào đúng thời điểm thế giới đang chịu ảnh hưởng nghiêm trọng của dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp COVID-19 nên càng làm tăng thêm tính kịch tính và được đón nhận một cách nhiệt tình từ đông đảo người xem trên toàn thế giới. 

xem phim mua covid 19- 2

Hiện tại, “Kingdom 2” đang đứng đầu danh sách “Phim nổi bật toàn cầu” trên Netflix. Với diễn xuất “không thể chê vào đâu” của các diễn viên nổi tiếng như Joo Ji Hoon, Bae Doona, Ryu Seung Ryong, Kim Sang Ho… Series Kingdom chắc chắn sẽ giúp bạn “mãn nhãn” trong “mùa” Corona này.

Contagion” (“Sự truyền nhiễm“)

Beth Emhoff – nữ doanh nhân trở về Mỹ sau chuyến công tác tại Hồng Kông đột ngột qua đời vì một căn bệnh kỳ lạ. Sau vài ngày mất của Beth, dịch bệnh bùng phát trên toàn thế giới khiến hơn 26 triệu người tử vong. Mặc dù là cốt truyện giả tưởng, nhưng “Contagion” cũng thành công trong việc đề cập, liên kết với nhiều sự kiện có thật vào thời điểm lúc bấy giờ, đặc biệt phải kể đến dịch bệnh SARS hay cúm gà. MEV-1 – loại virus trong phim có đặc điểm lây nhiễm qua đường hô hấp, tiếp xúc cơ thể và gây chết người nhanh chóng. “Contagion” được đánh giá cao bởi đã miêu tả một cách chân thực nỗi sợ hãi, hoảng loạn của tất cả người dân địa cầu khi xảy ra bệnh dịch SARS năm 2003. 

xem phim mua covid 19 - 3

Contagion” là một trong số những bộ phim điển hình miêu tả về tâm lý đám đông cùng hành vi tập thể dẫn đến hiềm khích và sự mất trật tự xã hội khi dịch bệnh bùng phát. Mọi người trở nên bất lực, bối rối trước hàng loạt thông tin phát ra mỗi ngày, chẳng biết đâu là “tin chính thống” và đâu là những tin bị xuyên tạc, gây hoang mang bởi bộ phận kẻ xấu. Trong tình huống của Corona hiện nay, “Contagion” có thể là lựa chọn lý tưởng cho bạn trong những ngày bảo vệ bản thân tại nhà. 

Antisocial 2” (“Đại dịch 2“)

Sau nỗi đau bị đánh cắp con, Sam bắt đầu tìm kiếm và gia nhập vào một tổ chức toàn những kẻ bị nhiễm độc từ trang mạng xã hội có tên Redroom. Sau khi kết bạn với Bean, Sam bị bắt và giam giữ tại một cơ sở nghiên cứu thuốc chữa virus Redroom. Không thể chịu đựng những trận tra tấn ác độc, Sam cố gắng trốn thoát trước khi bản cập nhật virus trên trang Redroom hoàn tất và giải phóng giai đoạn cuối cùng của cuộc tấn công. 

xem phim mua covid 19 - 4

Antisocial 2” như một lời thông báo, cảnh tỉnh cho con người về việc bất cứ ai cũng có thể mắc bệnh ở mọi lúc, mọi nơi và chẳng bao giờ được báo trước. Nội dung phim đặt các nhân vật vào thế bị động, phải nhận những hậu quả khôn lường – giống như cuộc sống đời thực đầy khắc nghiệt. Cái chết và bệnh tật có thể đến bất cứ lúc nào, dù bạn là ai. 

Bộ phim thuộc thể loại kinh dị, hành động với sự tham gia của các diễn viên tên tuổi Michelle Mylett, Josette Halpert, Stephen Bogaert, Jake Michaels… 

Children Of Men” (“Những đứa trẻ thời chiến“)

Bộ phim “Children Of Men” được chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của P.D.James, do Alfonso Cuarón cầm trịch. Bộ phim thuộc thể loại giả tưởng, về câu chuyện tuyệt vọng của con người khi mắc phải một loại dịch bệnh kì lạ không gây tử vong nhưng khiến nhân loại mất đi khả năng thụ thai và sinh con. Cùng đó, cuộc chiến giữa người tị nạn và chính quyền Anh diễn ra căng thẳng khiến con người càng hoảng loạn, thế giới như đảo điên. 

xem phim mua covid 19 - 5

Giữa chiến tranh, sự chết chóc và tuyệt vọng, một trinh nữ da đen bỗng hoài thai và có khả năng sinh con. Khoảnh khắc khi đứa bé cất tiếng khóc chào đời, tất cả tiếng gào thét, tiếng bom đạn hay súng nổ đều đột ngột dừng lại và im bặt, chỉ còn những ánh nhìn trìu mến, hạnh phúc siết thương cùng khát khao được chạm vào đứa trẻ sơ sinh. 

Children Of Men” được nhà phê bình đánh giá là kiệt tác và là một trong số bộ phim hay nhất suốt 2 thập kỷ trước lột tả một cách chân thực và nhân văn về sự sống còn của con người, về những vấn nạn và khó khăn mà nhân loại phải gánh chịu.

14 bộ phim “feel-good” tràn ngập tinh thần lạc quan đẩy lùi “đại dịch hoảng sợ”

Những ngày gần đây, sự lây lân dữ dội của dịch bệnh đã kéo theo sự bùng nổ của khái niệm mang tên “đại dịch hoảng sợ”. Trong bối cảnh đó, dòng phim “feel-good” đóng vai trò như một liều thuốc tinh thần cần thiết, đan cài vào tâm trí người xem những mảng sáng lạc quan của cuộc sống và ít nhiều tiếp thêm sức mạnh để cùng nhau “vượt bão”.

Trong vài thập kỷ trở lại đây, người ta thấy sự hình thành của “feel-good” như một dòng phim riêng của chính mình và ngày càng chiếm sóng rộng rãi trong văn hóa đại chúng. Khi ấy, “feel-good” đã không còn là một cụm từ để chỉ trạng thái tinh thần đơn thuần, mà dường như đã chuyển dạng thành một phương tiện phòng vệ của con người trước những khó khăn mới phát sinh của xã hội hiện đại, hàm chứa trong đó mong muốn giản dị, đó là tìm lại sự cân bằng và niềm tin vào cuộc sống. Nói cách khác, khi tìm về những tựa phim “feel good”, người ta tìm kiếm sự an ủi và vỗ về.

Những bộ phim dán nhãn “feel-good” đã trở thành một phép thuật cho tinh thần, cho phép người xem biến mất vào những câu chuyện với hồi kết tốt đẹp cùng thông điệp cảm động để rồi sau đó, ta quay lại cuộc sống thực với một nguồn cảm hứng mới.

Và trong những ngày ở nhà tránh Covid-19, cùng Đẹp điểm qua 14 cái tên hứa hẹn sẽ đưa người xem vào những thế giới riêng vô cùng độc đáo, để ta tạm quên đi đám đông bên ngoài vách tường yên ổn, tạm xua tan bộn bề của loạt thông tin ảm đạm, cầm trên tay một tách trà nóng hay ly cà phê đá và hoàn toàn “biến mất” vào một cảm giác feel-good.

“Amélie” (2001)

Bộ phim kinh điển của nước Pháp đã làm say mê hàng triệu khán giả có khả năng “sưởi ấm” người xem ngay từ những giây đầu tiên bước vào thế giới tưởng tượng đầy màu sắc của Amélie (Audrey Tautou). Sau thời gian dài sống khép mình, Amelié quyết định bước ra khỏi khu vực an toàn của bản thân để đi tìm chủ nhân của chiếc hộp kỷ niệm cô vô tình thấy. Theo chân một trong những nhân vật tượng đài của điện ảnh thế giới, người xem cùng cô đi qua những mối nhân duyên kỳ lạ. Ta tìm thấy trong phim những mảnh ghép giá trị tạo nên ý nghĩa chân thật nhất của cuộc sống, đó chính là sự sẻ chia và nâng niu giữa con người với nhau, xuất phát từ những hành động tưởng như giản đơn mà ta trao gửi đi.

“My Neighbor Totoro” (1988)

Không chỉ phù hợp với trẻ em, các bộ phim hoạt hình của Studio Ghibli còn giúp người lớn hoài niệm về tuổi thơ của mình. Chuyện phim bắt đầu khi hai chị em Satsuki và Mei cùng bố chuyển nhà về một vùng nông thôn để được gần bệnh viện nơi mẹ hai đứa trẻ đang điều trị. Tại đây, hai đứa trẻ dần khám phá ra một bộ mặt hoàn toàn khác ẩn sâu bên trong ngôi làng bình yên, nơi những linh hồn bí ẩn sinh hoạt ngay bên cạnh con người. Khi Satsuki và Mei làm quen với Totoro, một linh hồn thần rừng thoắt ẩn thoắt hiện, những chuyến phiêu lưu kỳ lạ của cả hai bắt đầu.

“Midnight in Paris” (2011)

Là một bộ phim của Woody Allen, “Midnight in Paris” không thể thiếu các motif thường gặp ở những tác phẩm đến từ vị đạo diễn lừng danh này: những cuộc tranh luận thức thời của tầng lớp trí thức am hiểu văn hóa nghệ thuật, cảnh vật và phố thị không chỉ đơn thuần phục vụ vai trò phông nền mà trở thành một “nhân vật” trong câu chuyện, âm hưởng hoài niệm, chút hài hước châm biếm và sự lãng mạn bao trùm. Có thể nói, bộ phim tôn vinh cái đẹp theo những tiêu chuẩn truyền thống thuần túy – văn hóa, nghệ thuật, con người trong phim mở ra trước mắt người xem một thời hoàng kim đã qua. Tuy nhiên, đây cũng là bộ phim nhắc ta nhớ rằng: sau say mê và chìm đắm là bước ra để tiến về phía trước.

“Frances Ha” (2012)

Được viết bởi hai cái tên tài năng của làng điện ảnh Hollywood là Noah Baumbach và Greta Gerwig, bộ phim xoay quanh câu chuyện của Frances, cô gái 27 tuổi bất ngờ phải đối mặt với những khó khăn không hồi kết khi đang cố gắng chạm tới ước mơ làm vũ công tại New York. Mất nhà, không việc làm, cuộc sống bất ổn giữa dòng chảy xiết của thành phố không ngủ, thế nhưng Frances vẫn giữ được nhịp độ nhẹ nhàng, khoan thai trong cách đối mặt với vấn đề, từ đó đưa người xem vào trạng thái tinh thần thoải mái và lạc quan hơn để nhìn nhận lại các thử thách trong cuộc sống.

“Spirited Away” (2002)

Mang về cho Nhật Bản tượng vàng đầu tiên cho hạng mục “Phim Hoạt hình xuất sắc nhất” vào năm 2003, “Spirited Away” là bộ phim dù được “replay” bao nhiêu lần thì người xem vẫn luôn tìm thấy những chi tiết mới mẻ để quan sát và chiêm nghiệm. Câu chuyện trưởng thành của cô bé Chihiro đưa người xem đi qua hành trình kỳ ảo tới vùng đất linh hồn, nơi tất cả mọi thứ đều chìm sâu trong màn sương mơ hồ, và cô phải tự đi tìm lời giải đáp chung cho vô vàn những câu hỏi không tên của mình.

“The Help” (2011)

Bộ phim xoay quanh hành trình đấu tranh để xuất bản cuốn sách mang tên “The Help” của nữ phóng viên Skeeter, phản ánh sự bất công giai cấp và chủng tộc mà những người giúp việc da đen trong khu phố cô sống đang phải chịu đựng. Xuyên suốt bộ phim là sự công bằng và tình người, đưa người xem đi từ sự tù túng và chật vật hàng ngày của các nhân vật thuộc tầng lớp thấp cổ bé họng, cho đến sự chữa lành và niềm tin mới mà họ có được về một tương lai tươi sáng hơn cho gia đình và chính mình.

“Coco” (2017)

Đoạt giải Oscar cho Phim hoạt hình Hay nhất năm 2018, “Coco” không chỉ là một bộ phim về gia đình và ước mơ, mà còn là về kiếp người và hồi ức. Vùng đất của người chết trong phim hiện ra không bi lụy hay ảm đạm, mà ngược lại, những linh hồn vẫn tiếp tục xây dựng một cuộc sống nối dài của kiếp người đã qua ở bên kia chiều không gian của thế giới. Với không ít những khoảnh khắc cảm động đến nghẹn ngào, bộ phim khiến người xem trân quý hơn cuộc sống mà ta đang có cũng như cơ hội để ta được tiếp tục xây đắp kỷ niệm với những người thân yêu.

“Castaway on the Moon” (2009) 

Hai tâm hồn cô đơn và mệt mỏi – cô gái Hikikomori tự giam hãm bản thân bên trong căn phòng ngập ngụa rác, chàng trai nợ nần lựa chọn tự khép lại cánh cửa cuộc đời vĩnh viễn – bỗng tìm ra nhau giữa thế giới rộng lớn trong hoàn cảnh khó tin nhất. Đó là câu chuyện của “Castaway on the Moon”, bộ phim của điện ảnh Hàn Quốc với lối kể chuyện dí dỏm, dịu dàng, và đậm chất thơ về mối nhân duyên kỳ lạ giữa những kẻ bị bỏ lại trên đường đua của xã hội, về những vết thương được hàn gắn và chữa lành bằng sự đồng điệu và kết nối sâu sắc giữa người với người.

“Lost in Translation” (2003)

Bất đồng ngôn ngữ – hay sự lạc lõng của cá thể giữa guồng quay của xã hội hiện đại – là chủ đề được nữ đạo diễn Sofia Coppola khai thác trong bộ phim “Lost in Translation”. Hai nhân vật Bob Harris (Bill Murray), nam diễn viên trung niên được mời đến Nhật Bản tham gia đóng quảng cáo, và Charlotte (Scarlett Johansson), cô gái trẻ vừa tốt nghiệp chuyên ngành triết học tại một trường đại học danh giá đã vội cưới chồng, có một cuộc gặp gỡ vô tình nhưng ngắn ngủi trên đất khách. Sự hòa quyện trong tâm hồn của hai nhân vật được đặt trong bối cảnh tương phản với sự bất đồng ngôn ngữ. Tại đây, họ chia sẻ với nhau những khoảnh khắc không thể quên khi cùng nhau tiếp xúc với một nền văn hóa mới.

“Howl’s Moving Castle” (2004)

Cái tên thứ ba trong danh sách đến từ Studio Ghibli là “Howl’s Moving Castle”, bộ phim hoạt hình ra mắt vào năm 2004 và được chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Diana Wynne Jones. Lấy nguyên gốc từ bối cảnh Thế chiến thứ Nhất với xung đột chính trị giữa các nước châu Âu, phim đề cao tầm quan trọng của một “trái tim ấm” trước những điều vô nghĩa và bất công của chiến tranh và lòng tham con người. Cả bộ phim là quá trình tìm kiếm bản ngã của hai nhân vật chính Sophie và Howl, được phác họa thông qua trí tưởng tượng đầy sáng tạo và độc đáo bởi nhà làm phim hoạt hình huyền thoại Hayao Miyazaki.

“Big Fish” (2003)

Từ lâu, yếu tố kỳ ảo đã trở thành thương hiệu của Tim Burton, và “Big Fish” là bộ phim tươi sáng hiếm hoi của vị đạo diễn này sở hữu những gam màu rực rỡ xuyên suốt, đi cùng câu chuyện về niềm tin mãnh liệt với những điều “điên rồ” của nhân vật Edward Bloom (Ewan McGregor). Chuyến hành trình cuộc đời của Edward được kể lại cho người con trai với những chi tiết nửa thực nửa hư, và thông qua những câu chuyện kỳ vĩ hoang đường ấy, đời người ngắn ngủi của anh dường như trở nên bất tử.

“The Grand Budapest Hotel” (2014)

Cũng như Tim Burton, Wes Anderson được biết đến với lối kể chuyện đặc thù không tìm thấy được ở đâu khác. Bên cạnh những chi tiết mỹ thuật, sự dí dỏm và tinh thần “tiến lên” bất kể khó khăn nguy hiểm của các nhân vật trong phim chính là một trong những yếu tố làm nên màu sắc hiếm có của những tác phẩm đến từ vị đạo diễn này. Có lẽ tất cả các phim của Wes Anderson đều có thể liệt kê vào danh sách “feel-good”. Tuy nhiên, “The Grand Budapest Hotel” với câu chuyện về tình bạn, sự sẻ chia và vươn lên trong cuộc sống, sẽ dễ dàng chạm đến trái tim của bất kì người xem nào.

“Cinema Paradiso” (1988)

“Cinema Paradiso” là một cái tên không thể thiếu khi nhắc đến những bộ phim có khả năng khiến người xem thêm trân trọng cuộc sống. Chạy theo chiều hồi tưởng của nhân vật Salvatore, bộ phim đi qua những kỷ niệm thơ bé gắn liền với rạp chiếu bóng và người trình chiếu của rạp lúc bấy giờ là ông Alfredo, cho tới lúc Salvatore trưởng thành và bắt đầu công việc ở chính nơi đã vun trồng trong cậu bé ngày nào tình yêu mãnh liệt với điện ảnh. Được xem như một lá thư tình gửi đến môn nghệ thuật thứ 7, Cinema Paradiso là một thước phim đầy dịu dàng và nên thơ về tình bạn, tình yêu, đam mê, và những chấp niệm trong đời.

“Zombieland” (2009)

Phim xoay quanh câu chuyện giả tưởng về những kẻ sót lại sau trận càn quét của dịch bệnh lạ biến toàn bộ nhân loại thành xác sống. Điều đáng nói: là những người sống sót sau cùng hậu tận thế, tất cả các nhân vật trong phim đều có cách thức tồn tại độc đáo của riêng mình. Điều khiến bộ phim có chủ đề không quá mới này thích hợp để đặt trong loạt phim “feel-good” là cách phim khai thác những yếu tố gây cười đầy duyên dáng và thông minh. Có thể nói, “Zombieland” hài hước hóa, thậm chí châm biếm nhu cầu sinh tồn của con người, từ đó làm dịu đi những căng thẳng thường gắn liền khi ta nói về sự sống và cái chết.

“Chuyện ngày xưa ở… Hollywood”: bức tranh toàn cảnh về phương Tây phóng khoáng và thác loạn của thập niên 1960

Bộ phim mới nhất của đạo diễn Quentin Tarantino không chỉ vẽ nên bức tranh về ngành phim ảnh, mà còn về cả một xã hội phóng túng thời kỳ đó.

"Once Upon A Time in...Hollywood"
“Once Upon A Time in…Hollywood” quy tụ những tên tuổi lừng lẫy nhất trong lĩnh vực diễn xuất và sản xuất.

Thật hiếm có tác phẩm điện ảnh nào hội tụ nhiều tài năng lớn trên màn bạc như “Once Upon A Time in…Hollywood” (tên Việt: Truyện Ngày Xưa Ở… Hollywood) vừa ra mắt. Là bộ phim thứ 9 của đạo diễn lừng danh Quentin Tarantino, “Once Upon A Time in…Hollywood” lấy bối cảnh kinh đô điện ảnh những năm 60 của thế kỷ trước. Tại đó, cặp đôi diễn viên Rick Dalton (Leonardo DiCaprio) và tài xế/người đóng thế Cliff Booth (Brad Pitt) phải trải qua vô số sự việc dở khóc dở cười khi cư ngụ ở chốn phù hoa bậc nhất thế giới.

Chưa bao giờ lỗi thời

Thập niên 1960 hiện lên rực rỡ và hào nhoáng trong con mắt của nhà làm phim Quentin Tarantino.

Bên cạnh nội dung phim vô cùng độc đáo, nhiều khán giả còn cảm thấy vô cùng ngạc nhiên với phong cách ăn mặc và thái độ sống của những nhân vật trong phim. Điển hình hơn cả là hai nhân vật: nữ diễn viên Sharon Tate (Margot Robbie thủ vai) và cô nàng hippy Pussycat (Margaret Qualley). Đối với Sharon, cô thường xuyên xuất hiện với trang phục váy ngắn chữ A, giày bốt cao cổ hiện đại, thân thể nuột nà không khác gì những hot girl Instagram hiện nay. Chưa hết, những phân đoạn Sharon tưng bừng nhảy múa theo tiếng nhạc, dù là giữa một bữa tiệc hay đang dọn dẹp ở nhà riêng, cũng chiếm khá nhiều thời lượng trong phim.

Về phần nhân vật Pussycat, cô nàng này còn khiến nhiều khán giả tưởng như một cô nàng xuyên không từ hiện tại về 50 năm trước khi từ trang phục, điệu bộ đến lời nói đều chẳng lỗi thời chút nào. Pussycat trong “Once Upon A Time in…Hollywood” thường xuất hiện với chiếc áo crop top bằng len màu cầu vồng, cùng chiếc short bò ngắn năng động. Cô thậm chí còn hồn nhiên… khoe chùm lông nách không hề cắt tỉa, và thoải mái có những cử chỉ trêu ghẹo, câu kéo khi ngồi bên vệ đường bắt xe.

once upon a time in hollywood
Khó có thể tìm ra người hoàn hảo hơn Brad Pitt để vào vai Cliff Booth.

Không chỉ Pussycat và Sharon Tate, mà nhiều nhân vật khác, tình tiết khác trong “Once Upon A Time in…Hollywood” cũng cho thấy rõ một xã hội phóng khoáng, cởi mở và nhiều năng lượng. Chẳng hạn, nhân vật Cliff Booth của Brad Pitt có những cảnh cởi áo khoe thân trên vạm vỡ khi leo lên mái nhà sửa ăng ten, hoặc hút cần và phê thuốc.

Trước đó, trong thập niên 50, xã hội phương Tây vẫn còn nhiều kín kẽ. Phụ nữ vẫn mặc những kiểu váy tay bồng, chân váy dài tới gối, tóc cuốn búp… Tuy nhiên, chỉ sau một vài năm, cả phong cách lẫn lối sống dường như đã xoay chuyển 180 độ. Ít ai biết rằng, làn sóng trẻ trung và hiện đại ấy không khởi nguồn từ Mỹ, mà từ một đất nước khác bên kia Đại Tây Dương – Vương Quốc Anh.

Rực rỡ và vụn vỡ

Kể từ thập niên 60, nước Anh mà tâm điểm là thủ đô London trải qua một sự thay da đổi thịt thần kỳ, từ một nơi xám xịt, u ám sau Thế Chiến Thứ II trở thành một tụ điểm đầy màu sắc của giới trẻ. Khởi nguồn của cơn sốt này chính là ban nhạc đình đám The Beatles, với những bài hát trẻ trung hơn hẳn giai điệu jazz, blues lỗi thời của thập niên trước.

once upon a time in hollywood
Một cuộc cách mạng về hình ảnh và phong cách đã diễn ra trong thập niên 1960. Trong ảnh là siêu mẫu Jean Shrimpton trong chiếc váy được gọi là “White shift dress of Jean Shrimpton” đã gây chấn động nước Úc.

Cùng với cuộc cách mạng trong âm nhạc, các người mẫu xinh đẹp của xứ sở sương mù như Twiggy, Jean Shrimpton cũng diện những trang phục thoải mái và phóng khoáng hơn hẳn những năm trước, nổi bật hơn cả là váy mini (miniskirt). Thậm chí, khi siêu mẫu Jean Shrimpton tới nước Úc với chiếc váy mini trên người, cả đất nước này còn bị sốc cực độ. Tuy nhiên, chỉ một năm sau đó, kiểu váy này đã trở thành xu hướng được vô vàn phụ nữ Úc đua nhau làm theo. Trong “Once Upon A Time in…Hollywood”, trang phục của cô nàng Sharon Tate cũng thấm đượm phong cách này, một điều hiển nhiên vì Sharon ngoài đời vốn cũng xuất thân là một người mẫu có tiếng của thập niên 60.

once upon a time in hollywood
Nhan sắc của Sharon Tate ngoài đời thực. Cuộc đời bi thương của cô được Hollywood ghi nhận là nỗi ám ảnh kinh hoàng của giới giải trí.

Quan trọng hơn cả, thập niên 60 cũng là khởi đầu của làn sóng hippy (tạm hiểu là lập dị) trong giới trẻ. Những thanh thiếu niên theo làn sóng này thường ăn vận lôi thôi, sống buông thả, thậm chí bỏ nhà đi bụi và sử dụng chất kích thích vô tội vạ. Họ yêu thích âm nhạc và nghệ thuật, có tư tưởng phản đối chiến tranh (cụ thể là Chiến Tranh Việt Nam) và không thích lối sống vật chất. Đỉnh cao của phong trào hippy là mùa hè năm 1967-1969, được đặt tên là “Mùa hè tình yêu” (Summer of Love) khi có tới 100.000 cô cậu hippy tập trung tại khu vực San Francisco của Mĩ. Sự phóng khoáng bất cần lên cao đến mức bà Diana Vreeland, chủ bút tạp chí Vogue danh giá đã gọi thập niên 60 là “Cơn địa chấn sức trẻ” (youthquake).

Không may là bên cạnh nhiệt huyết sôi sục, thì sự buông thả của giới trẻ trong thời kỳ này cũng dần đi quá trớn, làm nảy sinh nhiều tệ nạn xã hội. Đỉnh điểm không gì khác chính là vụ sát hại nữ diễn viên Sharon Tate cùng 3 người bạn tại nhà riêng vào năm 1969, cũng chính là sự kiện mà “Once Upon A Time in…Hollywood” phỏng theo và biến tấu. Trong vụ việc này, 3 thanh niên hippy sống trong nhóm của tên tội phạm Charles Manson đã đột nhập vào nhà, giết hại dã man 4 người – trong đó Sharon đang mang thai hơn 8 tháng. Vụ sát hại gây chấn động này đã đặt dấu chấm hết cho những năm 60 hoang dại, và mở ra một thập niên 70 tỉnh táo, khuôn khổ hơn.

once upon a time in hollywood
Sự phóng khoáng bất cần lên cao đến mức bà Diana Vreeland, chủ bút tạp chí Vogue danh giá đã gọi thập niên 60 là “Cơn địa chấn sức trẻ” (youthquake).

Là một người hâm mộ Sharon Tate từ bé, và thương cảm cho kết cục bất hạnh của cô, đạo diễn Quentin Tarantino đã cố tình tạo nên một phiên bản khác hạnh phúc hơn trong “Once Upon A Time in…Hollywood”. Trong phiên bản này, 3 tên hippy khi thực hiện âm mưu ám sát đã bị Rick Dalton và Cliff Booth đánh bại dẫn tới chết thảm. Trong khi đó, Sharon vẫn an toàn ở nhà bên cạnh, thậm chí còn mời Rick vào nhà mình chơi ở đoạn kết phim. Với trí tưởng tượng phong phú, kết hợp với nhà dựng phim Robert Richardson cùng thiết kế sản xuất Barbara Ling, Quentin Tarantino đã tái hiện xã hội thập niên 60, với những điều đẹp đẽ lẫn xấu xí nhất chân thực tới từng góc nhỏ.