“Lời nguyền trên biển”: nỗi Ám ảnh kinh hoàng đến từ biển cả

Giải Trí

Dòng phim kinh dị/siêu nhiên vẫn luôn là mảnh đất màu mỡ cho các nhà làm phim lớn nhỏ vì khả năng sáng tạo vô hạn của nó. “Lời Nguyền Trên Biển” tiến thêm một bước mới khi kết hợp những yếu tố đáng sợ với nhau: linh hồn quỷ dữ và không gian không-lối-thoát.

Vẫn trung thành với cách làm phim đầy bí ẩn của dòng phim kinh dị/siêu nhiên, “Lời Nguyền Trên Biển” đưa khán giả vào một trải nghiệm mơ hồ, căng thẳng, đẩy mọi cảm xúc lên tột độ rồi giật thót bởi những hình ảnh và âm thanh điếng người.

Câu chuyện mới, bối cảnh mới nhưng nỗi sợ là huyền thoại

Tượng đài diễn xuất Gary Oldman xuất hiện trong bộ phim “Lời Nguyền Trên Biển” với hình ảnh một người cha trung niên rất yêu thương gia đình. David tìm thấy một con tàu đánh cá cũ và quyết định đưa cả gia đình ra biển để gắn kết tình cảm mọi người. Nhưng ông không nhận ra rằng con thuyền cũ này không phải bị bỏ rơi, mà vì tất cả những người chủ cũ của nó đều đã mất tích trong những chuyến ra khơi.

Diễn viên gạo cội thủ vai David, một người cha trung niên rất yêu thương gia đình.

Bộ phim khai thác một cách kể chuyện cổ điển nhưng đầy rùng rợn về một thế lực bí ẩn luôn tìm cách ám hại con người. Có lẽ hình ảnh đáng sợ nhất của những thế lực này là khi chúng ám vào đứa trẻ con của David, khiến cô bé trở nên ám ảnh và bạo lực hơn bao giờ hết. Lợi dụng những cơ thể yếu đuối và gần gũi với những nạn nhân, những bóng ma dần dần ám hại và thâu tóm toàn bộ gia đình tội nghiệp.

Sự lênh đênh vô đinh, không lối thoát cũng không thể bấu víu khiến cho tình cảnh cả gia đình thêm phần ngạt thở. Con tàu ma ám mang tên Mary phút chốc từ hi vọng biến thành nỗi tuyệt vọng. Sức mạnh nào sẽ cứu rỗi gia đình này hay họ sẽ trở thành nạn nhân xấu số tiếp theo của chuyến tàu định mệnh?

“Tắc kè hoa” Gary Oldman trở thành nạn nhân của ác ma trên biển

Sau màn trình diễn ấn tượng của Thủ tướng Winston Churchill trong “Darkest Hours” và giành giải thưởng Oscar danh giá cho Nam Chính Xuất Sắc Nhất, Gary Oldman trở lại với bộ phim “Lời Nguyền Trên Biển” với một vai diễn đời thường nhưng nhiều ý nghĩa hơn với chính bản thân ông. Hình ảnh người chồng đang cố gắng hàn gắn tình cảm gia đình phần nào phản ánh cuộc sống của ông trong đời thực, với nhiều lần hôn nhân tan vỡ dù vẫn luôn có những đứa con bên cạnh.

Gary Oldman quen thuộc với khán giả Việt Nam trong những vai diễn huyền thoại như: ủy viên Gordon trong bộ 3 phim “Batman” của Christopher Nolan, có mặt trong “Harry Potter” trong vai Sirius Black, hay những vai diễn phản diện có chiều sâu trong “Bình Minh Hành Tinh Khỉ”, “The Hitman’s Bodyguard”

Liệu sự có mặt của Gary Oldman có giúp thay đổi bộ mặt của thể loại phim kinh dị hiện đại vốn là đất diễn của những tên tuổi trẻ nhưng không nổi bật, thường thiếu chiều sâu và lạm dụng những cảnh hù dọa nhàm chán. Câu chuyện về chuyến hành trình đầy trắc trở và ám ảnh của cả gia đình sắp tới, liệu có trở thành một trang sách kế tiếp trong quyển sổ tử thần?

Bài: PV

08/10/2019, 16:00

Đạo diễn phim “Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi”: không ép ai cứu phim của mình

Giải Trí

Lời kêu cứu của đạo diễn Chung Chí Công vô tình đẩy “Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi” trở thành đề tài tranh cãi của dư luận. Dù thật lòng, với anh, mong muốn khán giả ra rạp chỉ là “mơ ước bình thường và rất đỗi tự nhiên của bất cứ ai dốc lòng làm ra một sản phẩm”.

Từng được biết đến là nhà sản xuất, biên kịch và giám đốc mỹ thuật của “Nhắm mắt mùa hè” nhưng “Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi” như một cú liều của Chung Chí Công. Bởi đây là lần đầu tiên anh ngồi ghế đạo diễn, sớm hơn 10 năm so với dự tính.

Phim có kinh phí thấp, vắng bóng ngôi sao hạng A cũng chẳng PR rầm rộ trước khi ra rạp, nội dung phim được đánh giá là giản đơn, nhẹ nhàng. Đúng tiêu chí của phim độc lập, yên phận mình giữa màn bạc đầy ắp kỹ xảo, kịch tích. Vậy mà, “Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi” lại khơi lên những ồn ào, điều mà đạo diễn Chung Chí Công chưa từng muốn có. Đẹp đã có buổi trò chuyện thẳng thắn cùng anh xoay quanh những vấn đề này.

“Nếu yêu phim thì hãy yêu phim bây giờ”

Sau lời kêu gọi cần 1.500 bạn trẻ cứu phim, anh nhận thấy số lượng khán giả có tăng lên đáng kể?

Sau lời chia sẻ đó trên trang cá nhân, lượng khán giả yêu mến phim quyết định ra rạp sớm đã tăng gấp đôi so với hôm trước. Vừa là tín hiệu vui cho bộ phim, cũng là áp lực cho cả ekip tiếp tục cố gắng làm việc để không phụ lòng tin yêu của mọi người.

Nhưng lời kêu gọi ấy cũng gây phản ứng trái chiều. Có một câu hỏi được đặt ra “Tại sao phải cứu một sản phẩm khi bản thân nó chưa tốt?”. Lời đáp của anh là gì?

Trong phần chia sẻ đó, tôi có viết rất rõ là mình thật sự cần trước hết là những ai có quan tâm đến bộ phim, biết tới nó và có ý định xem nhưng chưa ra rạp thì hãy dành thời gian cho phim vì biết đâu ngay ngày mai nó sẽ không còn ở đó nữa. Tôi thật sự cần mọi người “nếu có yêu phim thì hãy yêu phim bây giờ”, chứ không “muốn” mọi người phải làm như vậy, hay bắt ép mọi người bỏ tiền ra cho một sản phẩm không tốt để cứu nó.

Đạo diễn Chung Chí Công

–  Vẻ như nhiều người đã hiểu sai ý anh?

Tôi cần mọi người nếu đã tin và yêu bộ phim thì hãy hành động bằng cách chia sẻ về phim đến bạn bè mình, đến những cộng đồng yêu phim Việt. Bản thân bộ phim vào ngày ra rạp đã là của khán giả chứ không còn là của tôi và ekip nữa. Nếu phim may mắn được ai đó thương thì những người làm cha làm mẹ này cũng mong nó được khôn lớn đủ đầy.

Tôi nghĩ đó là một mơ ước bình thường và rất đỗi tự nhiên của bất cứ ai dốc lòng làm ra một sản phẩm và mong đứa con của mình đến được với công chúng. Bản thân tác phẩm phải sống được thì nhà làm phim mới sống được và có thể tiếp tục hành trình làm nghề của mình. Niềm tin vào những điều tốt đẹp là quan trọng, sự ghi nhận những nỗ lực là quan trọng nhưng cơm áo gạo tiền cũng không đùa với khách thơ.

Từ chuyện yêu cho đến chuyện làm phim: quan trọng là phù hợp!

Tại sao lại là “Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi”?

Có bao giờ bạn trằn trọc cả đêm vì vài chuyện cần phải suy nghĩ. Đến khi mặt trời mọc, nghĩ thông được mọi việc thì bản thân thở phào nói: “OK trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi!”. Tựa phim bắt đầu đơn giản như vậy.

Hẳn anh quá rõ công thức làm phim ở xứ mình, chí ít cũng phải có người nổi tiếng hay một cái tên hút phòng vé nào đó?

Nói thật, khi bắt đầu làm phim này, tôi luôn mang một nỗi tự ti. Dù từng sản xuất “Nhắm mắt thấy mùa hè” nhưng ở vị trí đạo diễn, tôi chỉ là con số 0. Nếu như mời Hoàng Thùy Linh, Tóc Tiên cho đúng chuẩn phim âm nhạc có ca sĩ hát hay thì chắc gì mấy cổ chịu đến. Mà nếu đến cast thật thì chắc cũng vì lịch sự thôi.

Quốc Hoàng (vai Tâm) và Thúy Vy (vai Thanh)

Vậy bằng cách nào anh tìm ra Thúy Vy và Quốc Hoàng?

Bằng 2 post trên facebook “Em ơi, em ở đâu?”“Anh ơi, em ở đâu?”. Vy là nhân viên cũ của tôi cách đây 5,6 năm lúc còn mở quán ăn. Còn Hoàng là một ca khác. Khi đó, tôi có yêu cầu nam chính từ 22-26 tuổi. Một người bạn của tôi hỏi “18 tuổi mà mặt già được không?” và giới thiệu Hoàng cho tôi.

Tôi thấy anh quá liều khi anh chọn hai cái tên mới toanh chưa từng diễn xuất cho bộ phim đầu tay của mình. Quá nhiều rủi ro…

 Tôi thích gương mặt của Hoàng, nó lạ so với mặt bằng chung diễn viên hiện nay. Hôm casting, tôi cũng không đặt máy quay hay yêu cầu các bạn diễn thử gì cả. Chúng tôi cứ thoải mái ngồi nói chuyện với nhau và đàn hát vài ca khúc. Tôi chọn Vy và Hoàng không phải vì hai bạn hát hay nhất, ngoại hình sáng nhất hay dựa vào tiêu chí facebook có nhiều người theo dõi trong danh sách ứng cử viên. Lý do chỉ vì Vy và Hoàng hợp với nhau nhất và hợp với câu chuyện mà tôi muốn kể. Đối với tôi, phù hợp thì ưu tiên hơn là tốt nhất.

Nhạc Indie (độc lập), bản thân nó đã là thể loại khá kén người nghe, vì sao anh lại chọn làm chất liệu chính của phim?

Tôi tự hỏi, nhạc gì hợp với phim Indie, trong đầu nảy ra ngay lập tức: “nhạc Indie”. Cả hai vốn dĩ sinh ra là cho nhau. Dù trước đây, tôi chưa thấy ai làm.

 “Hợp” thì quan trọng hơn cả chuyện “hút khách”, đúng không?  

Khi xem đến cuối phim, khán giả sẽ thấy một câu hỏi hiện lên: “Làm sao để tìm được đúng người?”. Mỗi người hẳn sẽ có cho mình một lời đáp riêng. Còn đối với tôi chỉ có một câu trả lời, đó là hợp với nhau. Nam chính hợp nữ chính. Nhạc hợp với thể loại phim. Dù “Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi” sẽ hơi kén khán giả, nhưng tôi tin vẫn có nhiều người nhìn thấy chính mình trong phim.

“Bản thân tôi cũng đã từng muốn kết thúc cuộc sống của mình”

 Điểm nào trong phim mà anh sẽ giữ trong những phim “cộp mác” Chung Chí Công?

Trong phim có khá nhiều cú máy dài khoảng 3-4 phút, quay liên tục không cắt máy. Tôi quan điểm, nếu mình cắt máy, chuyển sang cảnh gần hơn, giống như ép khán giả thấy cái mà đạo diễn sắp đặt ví dụ như vài giọt nước mắt đang rớt xuống chẳng hạn. Trong các phim của mình, tôi muốn giữ những gì chân thật và tự nhiên nhất có thể.

Anh tin điều gì ở “Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi” sẽ chạm đến khán giả?

Bên cạnh âm nhạc, tôi mong câu chuyện của phim sẽ khiến khán giả cảm thấy gần gũi. Tôi tin sau khi rời khỏi rạp, mọi người sẽ cảm thấy thoải mái, nhẹ nhàng như thể bình yên sau cơn giông bão. Trên thế giới, có hẳn dòng phim như vậy được gọi là “feeling good”.

Anh từng chia sẻ mỗi lần làm phim là một cơ hội chắt chiu. Vậy đối với dự án này, sau áp lực kinh phí, sự đón nhận của khán giả còn điều gì khiến anh phải nặng lòng?

Mấy anh em có bàn với nhau nếu may mắn phim có lời một chút sẽ lập một cái quỹ dành cho những người bị trầm cảm. Đây cũng là chủ đề thực sự của phim. Bản thân tôi cũng đã từng trải qua những ngày muốn kết thúc cuộc đời của mình. Tôi biết, ở ngoài kia, cũng có nhiều người như vậy. Trầm cảm như một cơn sóng ngầm. Có những người bạn của tôi không bao giờ đi hết hành trình tuổi trẻ, họ dừng lại ở tuổi 19, 20. Tôi luôn đau đáu về những cái chết như vậy…  

– Cám ơn những chia sẻ của anh!

HÀ QUỐC HOÀNG – TRẦN LÊ THÚY VY: KHI HAI MẢNH GHÉP ĐẶT CẠNH NHAU

Điều thú vị là thời gian đầu khi quay phim cùng nhau, Hoàng và Vy đều không biết tên hay tuổi thật của đối phương. Cả hai gọi nhau bằng tên nhân vật trong phim. Đây là cách đạo diễn Chung Chí Công giúp hai diễn viên tay ngang hòa nhịp với mạch phim tốt nhất.

Trong “Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi”, hai diễn viên chính cùng đóng góp vào kịch bản của phim. Nói một cách khác, luôn có câu chuyện thật của Hà Quốc Hoàng và Thúy Vy được hiện lên màn ảnh. Nếu điểm giống nhau giữa Hoàng và Tâm là từng có một ban nhạc thì những mối tình dang dở không hồi kết là điều Vy phác họa lên nhân vật Thanh của mình.

Là sinh viên ngành Kinh doanh thương mại năm 2 Đại học Văn Lang, Hà Quốc Hoàng chưa từng nghĩ mình sẽ bén duyên với điện ảnh. Thậm chí, đến ngày quay đầu tiên của “Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi”, Hoàng vẫn đinh ninh mình đang đóng clip quảng cáo chiếu trên Youtube. Sự thật mình sắp xuất hiện trên màn ảnh rộng khiến chàng trai sinh năm 2000 ngỡ ngàng đôi chút nhưng nhanh chóng “xốc” lại tinh thần.

Trong khi đó, diễn xuất là ước mơ được Vy nuôi dưỡng từ thuở bé. Để chuẩn bị cho vai diễn, Vy xem đi xem lại khá nhiều lần series phim “Before” (“Before Sunrise”, “Before Sunset”, “Before Midnight”) cũng như đọc các bài báo phân tích phim. Vy bắt chước cả cách tập hát trong toilet để giọng vang hơn hay hát trên đường giúp khẩu hình miệng được rõ.

“Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi” không chỉ đánh dấu lần đầu tiên Hoàng diễn xuất mà còn là những trải nghiệm thú vị. “Đây cũng là lần đầu tiên, mình phải hát một bài hát mấy chục lần liền hay ngồi đàn trên nóc nhà dưới cái lạnh 11 độ”, Quốc Hoàng chia sẻ. Còn đối với Vy, xuất phát điểm là người sản xuất chương trình của một kênh truyền hình, Vy hiểu rõ cái vất vả phía hậu trường khiến cái áp lực phải diễn tròn vai nhân lên nhiều lần.

Sau “Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi”, Hà Quốc Hoàng và Thúy Vy không vụt sáng thành sao. Nhưng cú chạm ngõ này cũng đủ để giới thiệu cho điện ảnh Việt hai gương mặt mới hoặc có khi là tân binh cho làng nhạc.

Những vai diễn ấn tượng trong sự nghiệp điện ảnh 30 năm của siêu sao da màu đắt giá nhất Hollywood Will Smith

Giải Trí

Là tài tử da màu đắt giá và có sức hút bậc nhất thế giới, trung bình mỗi phim, Will Smith đều bỏ túi ít nhất 20 triệu USD. “Đàn ông Song Tử” (Tựa gốc: Gemini Man) là tác phẩm điện ảnh thứ 30 trong sự nghiệp của anh. Cùng điểm lại những tác phẩm nổi bật làm nên tên tuổi tài tử 51 tuổi này.

Bad Boys (1995)

Năm 2020, Will Smith tiếp tục trở lại làm “trai hư” trong phần ba với tên “Bad Boys for Life”.

Đóng phim điện ảnh đầu tay từ đầu thập niên 1990 nhưng bộ phim đầu tiên biến Will Smith thành ngôi sao tầm cỡ quốc tế là “Bad Boys” (1995). Phim nói về hai viên cảnh sát có 72 tiếng để truy tìm đống heroin trị giá 100 triệu USD bị đánh cắp ngay trong sở cảnh sát của họ. Có nhiều cảnh quay hành động kịch tính và đẹp mắt, phim của đạo diễn Michael Bay ăn khách suốt mùa hè 1995 và thu về gần 150 triệu USD dù kinh phí sản xuất chỉ vỏn vẹn 15 triệu USD. Phần hai ra mắt năm 2003 được nâng tầm lên thành “bom tấn” với số tiền đầu tư là 130 triệu USD và cũng thu về con số gấp đôi.

Independence Day (1996)

Chỉ một năm sau thành công của “Bad Boys”, Will Smith trở thành gương mặt của các bom tấn hành động – giả tưởng. Được coi là tác phẩm kinh điển về đề tài người ngoài hành tinh xâm lược Trái Đất, phim thu về con số hơn 800 triệu USD và còn giành một tượng vàng Oscar ở hạng mục “Kỹ xảo đẹp nhất”. Will Smith vào vai Captain Steven Hiller có vai trò quan trọng trong cuộc chiến chống người ngoài hành tinh.

Men in Black (1997)

Thành công nối tiếp thành công, sự nghiệp của Will Smith lên như diều gặp gió trong thập niên 90. Năm 1997, anh tiếp tục chiến đấu chống người ngoài hành tinh nhưng lần này ở một phim hành động phiêu lưu pha hài hước – “Men in Black”. Với bộ phim này, Will Smith tiếp tục chứng tỏ mình là một cái tên bảo chứng doanh thu khi bộ phim thu về gấp sáu lần kinh phí sản xuất, đồng thời trở thành một thương hiệu ăn khách kéo dài thêm ba tập và sau gần 30 năm, vẫn là một “mỏ vàng” được Hollywood khai thác trên cả điện ảnh, truyền hình, trò chơi điện tử.

Ali (2001)

“Ali” tập trung khắc họa 10 năm đầu sự nghiệp thi đấu chuyên nghiệp của huyền thoại quyền anh Muhammad Ali.

Sau một thập kỷ đóng các bom tấn giải trí, Will Smith bắt đầu hướng tới các vai diễn có chiều sâu hơn ở thập niên 2000. Năm 2001, anh hóa thân thành huyền thoại quyền anh nước Mỹ – Muhammad Ali – trong phim “Ali” của đạo diễn Michael Mann. Để hóa thân thành nguyên mẫu có thật này, Will Smith đã phải tăng cân và tập luyện cường độ cao. Dù bộ phim không đạt được doanh thu phòng vé cao nhưng đem lại cho tài tử da màu đề cử Oscar đầu tiên dành cho “Nam diễn viên chính xuất sắc nhất”. Đây cũng là bộ phim đầu tiên mà Will Smith được nâng mức thù lao lên con số 20 triệu USD.

The Pursuit of Happyness (2006)

Là một bộ phim xúc động mang tới những thông điệp đầy tính nhân văn về ý nghĩa thực sự của từ “hạnh phúc”, “The Pursuit of Happyness” dựa trên một câu chuyện có thật. Nhân vật chính của phim là Chris – một nhân viên bán máy soi xương luôn gặp thất bại trong việc kinh doanh. Quá bức bối với việc nợ nần của gia đình, vợ Chris đã bỏ đi và để lại cậu con trai nhỏ Christopher Jr. Điều tồi tệ nhất xảy ra khi hai bố con anh bị đuổi ra khỏi căn hộ do không đủ tiền trả và trở thành những kẻ lang thang. Tuy nhiên, với nỗ lực phi thường, anh không ngừng mưu cầu một cuộc sống hạnh phúc cho chính mình và con trai.

Đây cũng là lần đầu tiên Will Smith giới thiệu con trai Jaden lên màn ảnh rộng.

Hai cha con đã khiến hàng triệu khán giả rơi lệ với diễn xuất của mình. Vai diễn cảm động trong bộ phim đem về cho Will Smith đề cử Oscar thứ hai trong sự nghiệp và cho thấy anh hoàn toàn có thể diễn những vai tâm lý gia đình.

I Am Legend (2007)

“I Am Legend” tiếp tục đem lại thành công phòng vé cho Will Smith khi là một trong 10 phim ăn khách nhất thế giới vào năm 2007.

Cuối năm 2007, Will Smith được Nhà hát Grauman’s Chinese trên Đại lộ Hollywood vinh danh. Anh đặt dấu bàn tay và chân bên ngoài nhà hát nổi tiếng này trước mặt nhiều người hâm mộ. Khi đó, Will Smith vừa ra mắt phim “I Am Legend”. Đây là một bom tấn độc đáo với đề tài hậu tận thế và cũng là tác phẩm nâng tầm diễn xuất của tài tử da màu này khi cả phim gần như không có thoại, Will phải thể hiện tâm lý nhân vật qua gương mặt nhiều và anh cũng gần như là diễn viên duy nhất của phim.

Gemini Man (2019)

Sau 30 năm đóng phim, bộ phim thứ 30 của Will Smith là một tác phẩm đặc biệt khi là lần đầu tiên anh hợp tác với đạo diễn Đài Loan lừng danh – Lý An. Trong phim, Will Smith thủ vai Henry Brogan, một sát thủ đại tài nay bỗng nhiên bị một người lạ bí ẩn truy đuổi và ám sát. Điều kỳ lạ là kẻ săn lùng này biết được mọi suy nghĩ cũng như đoán trước những kế hoạch của Henry. Căng thẳng lên tới đỉnh điểm khi anh phát hiện ra kẻ thù ấy là… chính mình – một kẻ nhân bản vô tính trẻ hơn 25 tuổi. Từ đây, Henry phát hiện ra âm mưu đen tối và thế lực kì bí đứng sau câu chuyện này.

Will Smith trong phân cảnh đua xe nghẹt thở, gay cấn

Không chỉ được quay tại những bối cảnh hoành tráng như ở Budapest (Hungary), Georgia (Mỹ), Cartagena (Colombia), “Đàn ông Song Tử” còn đánh dấu những cột mốc mới về công nghệ làm phim khi tạo ra cùng lúc hai Will Smith trong cùng một thời điểm bằng kỹ xảo điện ảnh.

Giải cứu “Trời sáng rồi, ta đi ngủ thôi”: lời kêu gọi không được xem là chiêu trò

Giải Trí

Sau khi “Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi” ra rạp ngày 27/9, ngày 28/9, trên trang Facebook cá nhân của đạo diễn bộ phim đã xuất hiện một bức “tâm thư” kêu gọi khán giả ra rạp ủng hộ bộ phim. Nội dung bức tâm thư lập tức làm dấy lên những phản ứng trái chiều từ khán giả. Tuy nhiên, công tâm mà nói, có phải khán giả đang phản ứng một cách quá nhạy cảm?

Tâm thư của đạo diễn Chung Chí Công tạo nên luồng ý kiến trái chiều trong khán giả. 

“Trời ơi phim chưa muốn chết!” – đó là thông điệp sau cuối trong bức tâm thư của đạo diễn Chung Chí Công. Lời nhắn nhủ rõ ràng đã được “chế biến” lại từ tên bài hát “Trời ơi con chưa muốn chết” của rapper Đen Vâu được nhân vật Vĩnh Tâm cover lại trong “Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi”. Bài đăng này đạt được hơn 5.600 lượt chia sẻ, tuy nhiên, không phải lượt chia sẻ nào trong con số khổng lồ ấy cũng với cùng một tâm trạng đồng cảm và sẻ chia.

Trước “Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi”, đạo diễn Trịnh Đình Lê Minh của bộ phim “Thưa mẹ con đi” cũng từng đăng tâm thư kêu gọi khán giả ra rạp xem phim, và hẳn chúng ta cũng không thể quên thời gian trụ rạp thần kì của “Song lang” có được cũng nhờ công lao không nhỏ của chiến dịch giải cứu phim được khởi xướng bởi đạo diễn Nguyễn Hoàng Điệp. Chúng ta phải sòng phẳng với nhau ở một điểm: việc kêu gọi “giải cứu phim” hoàn toàn không vi phạm pháp luật, không làm phương hại đến quyền lợi hợp pháp của bất kì ai. Những khán giả vẫn đang phân vân lựa chọn giữa những poster phim được treo ở trước cửa rạp, họ có thể hưởng ứng lời kêu gọi, nhưng họ cũng hoàn toàn có quyền quay lưng. Bởi vì họ là khán giả, họ là đối tượng được phục vụ, và họ có quyền lựa chọn. Đạo diễn Chung Chí Công cũng không ép buộc hay van nài khán giả ra rạp xem phim, anh chỉ nói bộ phim “cần các bạn”. 

Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi” là một trong những tác phẩm điện ảnh độc lập.

Không thể phủ nhận, “Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi” đang được giới thiệu đến với khán giả bằng những thông điệp không hiệu quả. Phim được mô tả là dành cho khán giả thích nhạc indie, sự khoanh vùng tưởng đã khu biệt và rõ ràng, nhưng hóa ra lại mông lung và khó gợi được sự đồng cảm. Còn trong bức tâm thư, đạo diễn Chung Chí Công sử dụng “tagline” “Trời ơi phim chưa muốn chết” để mô tả cảm xúc của mình. Và rõ ràng nó đã phản tác dụng. Phim chưa muốn chết, tức là nếu muốn phim sống, khán giả phải ra rạp. Tại sao khán giả phải chịu trách nhiệm cho một bộ phim mà họ còn chả hề biết đến sự tồn tại của nó cho đến khi cái trailer phim được lên sóng chỉ hơn một tuần trước ngày phim khởi chiếu? Tại sao ê kip của phim không làm truyền thông tốt hơn, tại sao phim không lựa chọn những gương mặt nổi tiếng hơn… một ngàn lẻ một câu hỏi tại sao nảy ra chỉ vì một thông điệp không gãy gọn.

Tác phẩm của đạo diễn Chung Chí Công ngay từ đầu đã khó lòng tiếp cận số đông đại chúng.

Công chúng có quyền bất bình vì tự nhiên được “tặng” cho thêm một trách nhiệm. Tuy nhiên, chỉ một thông điệp vụng về trong cách thể hiện lại khiến dư luận phản ứng tiêu cực và trái chiều đến như thế, thì chúng ta có vẻ đang quá xét nét bất công với “Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi”

Việc kêu gọi khán giả xem phim – từ chỗ là một lời mời gọi đúng là đã từng bị biến tướng thành những chiêu trò lấp liếm của nhà sản xuất để lờ đi chất lượng phim tệ hại, thành công cụ để nhà sản xuất tranh giành với đơn vị phát hành thêm vài phần trăm ăn chia… khiến cảm xúc và lòng tin của khán giả trở thành một thứ công cụ làm tiền trong tay nhà sản xuất. Nhưng liệu đấy có phải những điều mà đạo diễn Chung Chí Công đang âm mưu tiến hành với “Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi”?

Liệu đây có phải là một chiêu trò quảng bá phim “Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi”?

Xin trả lời, là không. Việc đạo diễn kêu gọi khán giả ra rạp xem “Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi” đến từ mong muốn chân thành của một người đã đổ mồ hôi nước mắt ra để làm phim, và muốn đứa con tinh thần của mình được đối xử một cách xứng đáng: nó là một bộ phim, và nó cần có khán giả, dù cho khán giả ấy có yêu thích hay ghét bỏ. Trong toàn bộ thông điệp gửi khán giả, không có một dòng một lời nào đổ lỗi cho cá nhân hay tổ chức nào đã gây khó khăn cho bộ phim. Nội dung này sau đó cũng không bị dùng như một công cụ để ê kíp truyền thông quảng bá cho bộ phim, dù sự thực, dư luận phản ứng với thông điệp này nhiệt tình hơn hẳn bản thân bộ phim mà vì nó, thông điệp này ra đời. Ở cả phía đạo diễn và ê kíp truyền thông, đây là cách hành xử đầy tự trọng và công bằng.

Không vi phạm pháp luật, không đi ngược lại đạo đức, không làm hại ai và không ảnh hưởng đến quyền lợi của ai, vậy chúng ta đâu còn lí do gì để bức xúc về cách đạo diễn của “Trời sáng rồi, ta ngủ đi thôi” kêu gọi khán giả ra rạp xem bộ phim của mình?

Toàn cảnh làng văn nghệ thế giới bước vào mùa thu: đẹp và dễ chịu!

Giải Trí

Bước vào mùa thu, mùa đẹp và buồn nhất trong năm, dường như làng văn nghệ thế giới cũng đẹp và dễ chịu hơn rất nhiều, ở cả mảng điện ảnh hay âm nhạc, với những tác phẩm không chỉ để xem đó rồi thôi mà thực sự cuốn người ta vào một thế giới và bầu trời của riêng nó.

Một cảnh trong phim “Trời sáng rồi ta ngủ đi thôi”

Điện ảnh mùa thu: Chiêm nghiệm và tham vọng

Nếu như mùa hè là mùa của bom tấn điện ảnh thì mùa thu là mùa của những giải thưởng lớn, cũng là thời điểm các nhà làm phim phát hành những tác phẩm tham vọng nhất. Vài năm trở lại đây, những phim được ghi nhận tại Venice – liên hoan phim quan trọng nhất mùa thu – đều có một mùa giải thành công tại Oscar, điển hình là “The shape of water” hay “Roma”. Năm nay có lẽ cũng không là ngoại lệ khi chủ nhân giải Sư Tử Vàng là bộ phim “Joker” của đạo diễn Todd Phillips. “Joker” là câu chuyện tiểu sử về nhân vật gã hề điên loạn của thành phố Gotham, nhân vật đã trở thành kinh điển ngay từ khi y xuất hiện lần đầu trong tập truyện tranh “Batman” của DC Comics và sát hại nạn nhân bằng thứ nọc độc khiến gương mặt họ nở nụ cười quái đản.

Thành công của “Joker” giúp DC Comics lấy lại phong độ trên màn ảnh

Không riêng “Joker”, các tác phẩm tranh giải tại Venice 2019 cũng đánh dấu một năm điện ảnh khởi sắc sau năm 2018 tẻ nhạt, với sự trở lại của một loạt đạo diễn như Roman Polanski, Hirokazu Koreeda, Roy Andersson, Lâu Diệp, Steven Soderbergh. Với riêng James Gray, sau “The lost city of Z”, ông vẫn tiếp tục đề tài về những người đàn ông trong chuyến du hành của mình đến những miền đất thăm thẳm, nơi bản ngã đối diện với hư không, với “Ad Astra” – một tác phẩm dù không phải đỉnh cao trong thể loại của nó (làm sao có thể vượt qua những đỉnh núi như “Solaris” của Andrei Tarkovsky hay “2001: A space odyssey” của Stanley Kubrick), song vẫn là một tác phẩm tuyệt đẹp và buồn nao lòng về con người lửng lơ trong những tầng trời vũ trụ.

Brad Pitt có một năm 2019 đầy thành công sau giai đoạn chững lại trong sự nghiệp

Brad Pitt, người thủ vai chính trong “Ad Astra”, chỉ trong một khoảng thời gian ngắn, anh trình diện hai nhân vật hoàn toàn khác biệt: một Cliff Booth thật tự tại, thật ngầu trong “Once upon a time… in Hollywood” và giờ là phi hành gia Roy McBride với đôi mắt buồn quạnh quẽ. Với cả hai bộ phim, anh đều diễn không hề khoa trương, không hề cố định nhân vật bằng những “đòn” diễn uy lực, gây rúng động xúc cảm ngay tức khắc đối với người xem. Ngược lại, anh mở ra một chân trời cho nhân vật, diễn theo cách đầy sức gợi, cho người ta tiếp tục liên tưởng và nghĩ suy về vai diễn.

Nền điện ảnh Trung Quốc mùa thu này cũng thành công ngoài sức tưởng tượng với “Na Tra: Ma đồng giáng thế”, khi trở thành bộ phim hoạt hình không phải do Mỹ sản xuất có doanh thu cao nhất trên thế giới. Dù còn nhiều tranh cãi về chất lượng, không thể phủ nhận câu chuyện về cậu bé Na Tra huyền thoại đã đặt một dấu mốc cho sự phát triển thể loại phim hoạt hình Trung Quốc, chắc hẳn nó sẽ còn thăng hoa trong nhiều năm tới.

“Trời sáng rồi ta ngủ đi thôi” có nước phim mơ màng, những khung hình Sài Gòn thi vị và những bản nhạc indie tĩnh lặng, man mác

Tất nhiên, không nhất thiết phải tạo nên những tác phẩm hoành tráng, cầu kỳ, những tác phẩm hướng tới giải thưởng danh giá mới là tham vọng. Có những tham vọng bé nhỏ hơn, chẳng hạn như những nhà làm phim độc lập Việt Nam lặng lẽ làm ra những tác phẩm bình dị, đơn thuần, mô tả thế giới như nó vẫn là, tỉ mỉ mà không hề sặc sỡ. “Trời sáng rồi ta ngủ đi thôi” có nước phim mơ màng, những khung hình Sài Gòn thi vị và những bản nhạc indie tĩnh lặng, man mác. Những thước phim ấy không hề có tham vọng trở thành một cú hit, một tác phẩm đình đám, nó chỉ tồn tại trong dòng chảy của riêng mình. Và bất chấp những khó khăn của việc làm phim độc lập ở Việt Nam, các nhà làm phim trẻ vẫn miệt mài lao động, để khán giả không bao giờ quên rằng điện ảnh không phải lúc nào cũng là một đại tiệc hoành tráng và mãn nhãn, có khi nó chỉ là cuộc đời, yên lành và trong trẻo.

Âm nhạc mùa thu: Hoài niệm và ngọt ngào

Taylor Swift tái tạo chính mình bằng năng lượng tình yêu mới.

Mùa thu bắt đầu với sự ra đời của “Lover” về một Taylor Swift chan chứa yêu đương, đó như dấu hiệu tốt lành cho một mùa âm nhạc có sự trở lại của những ngôi sao ta yêu mến.

“Wake me up when September ends”, hãy đánh thức tôi khi tháng 9 tàn, đó là tên “thánh ca” mùa thu mà ban nhạc Green Day đã sáng tác. Thế mà khi tháng 9 còn chưa kịp qua đi, thì Green Day sau nhiều năm không phát hành sản phẩm mới đã bất ngờ trở lại với ca khúc “Father of all motherfuckers” với đầy đủ phẩm chất của những bản nhạc punk rock từng đưa họ tới đỉnh cao trong “American idiot” hay “Dookie”, và chưa hết, họ còn hứa hẹn về một album mới vào đầu năm 2020.

Green Day bất ngờ trở lại với ca khúc “Father of all motherfuckers”

Và cả nàng thơ một thời của nỗi sầu mùa hè, Lana Del Rey cũng xuất hiện trở lại vào mùa thu, với album “Norman fucking rockwell!” đan xen những bản tình ca thê thiết như cô vẫn thường vậy, những tuyên ngôn về chính trị không lên gân, không ồn ào nhưng đầy suy nghiệm, những giấc mơ chua chát của nước Mỹ hào hoa mà phản địa đàng. “Norman fucking rockwell!” thực sự là một sản phẩm đỉnh cao của Lana Del Rey, hay nói như nhà báo Jean Pelly trên Pitchfork (dù sự tâng bốc có thể hơi quá), nó “xác lập Del Rey như một trong những nhạc sĩ vĩ đại nhất còn đang sống của nước Mỹ”.

“Norman fucking rockwell!” thực sự là một sản phẩm đỉnh cao của Lana Del Rey.

Với người hâm mộ nhạc Việt, mùa thu cũng sẽ dịu dàng với phiên bản mới của “Tám chữ có”, ca khúc được Lê Cát Trọng Lý mang tới tận châu Phi để quay MV trên những đồng cỏ xavan hay dưới những cây bao báp khổng lồ, còn Hà Anh Tuấn sẽ mang những bản tình ca trong liveshow “Truyện ngắn” từ Hội An ra Sài Gòn và Hà Nội.

Hà Anh Tuấn miệt mài với những show diễn.

Truyền hình mùa thu: Vương vấn và tri ân

Không hẹn mà gặp, cả trên thế giới và ở Việt Nam, mùa thu năm nay đều nhuốm một màu vương vấn khi khán giả phải nói lời chia tay với những tác phẩm họ yêu mến.

Sau hơn 80 tập phim “Về nhà đi con”, khán giả màn ảnh nhỏ Việt Nam vẫn có thể gặp lại những câu chuyện gia đình với motif quen thuộc trong “Hoa hồng trên ngực trái”, từ cuộc sống cay đắng của những nhân vật nữ, sự nhu nhược của những nhân vật nam, chuyện tình tay ba lằng nhằng phức tạp kéo dài từ tập này sang tập khác. Có lẽ, người ta vẫn chưa sẵn sàng để quên “Về nhà đi con”, và việc VTV trình chiếu một bộ phim với nội dung mang nhiều điểm tương đồng giống như một cách níu kéo những cảm xúc còn sót lại từ bộ phim trước đó.

“Hoa hồng trên ngực trái” truyền đi thông điệp nữ quyền: phụ nữ hoàn toàn có thể đứng dậy sau đổ vỡ hôn nhân.

Truyền hình miền Nam cũng háo hức với “Tiếng sét trong mưa”, một dự án có kinh phí lên tới 10 tỷ đồng, quay trong 2 năm, dựng lại một vở cải lương kinh điển từng làm rúng động xã hội Trung Quốc những năm đầu thế kỷ 20 do kịch tác gia Tào Ngu sáng tác, vở “Lôi Vũ”. “Lôi Vũ” là một tấn kịch gia đình tréo ngoe, một tác phẩm dữ dội về báo ứng, nhân quả, tình yêu, tội ác. Ở đó, tất cả các nhân vật cuối cùng đều chỉ là tốt thí trên bàn cờ số phận. Một cốt truyện tầng tầng lớp lớp và đầy chất liệu để chuyển thể thành phim nhiều tập. Và với những chia sẻ về quá trình làm phim đầy kỳ công, “Tiếng sét trong mưa” có thể ít nhiều tạo nên một dấu mốc mới cho truyền hình miền Nam.

“Chernobyl” làm về thảm họa hạt nhân và cũng là thảm họa nhân tính của thế kỷ 20.

Trong khi ấy, ở Mỹ, giải thưởng Emmy danh giá cho lĩnh vực truyền hình vừa diễn ra trong những ngày cuối tháng 9, vinh danh những tác phẩm để lại quá nhiều dư âm cho khán giả. Đó là “Chernobyl” – bộ phim 5 tập về thảm họa hạt nhân nhưng cũng là thảm họa nhân tính kinh hoàng của thế kỷ 20, dằn vặt lương tâm con người về câu hỏi “cái gì là sự thật?”. Đó là phần khép lại loạt phim “Games of Thrones”, dù không xuất sắc như kỳ vọng nhưng xét cho cùng, sau chừng ấy mùa phim, sau chừng ấy những cảm xúc mà nó đã từng đem đến, khi nó đi tới dấu chấm sau cùng, nó cũng vẫn đáng được tri ân.

“Game of Thrones” được vinh danh lần cuối cùng tại Emmy.

Và đó là cái kết có hậu để mở đầu một mùa thu với những hành trình mới.

Ngày âm nhạc chết đi: khi phần nhìn lấn át phần nghe

Giải Trí

Từ sau sự ra đời của truyền hình và những phương tiện nghe nhìn, diện mạo âm nhạc đã thay đổi hoàn toàn. Những trải nghiệm âm nhạc thực sự mở rộng biên giới vượt khỏi thính giác, trở thành câu chuyện của cả thị giác. Người ta bắt đầu thích xem nhạc hơn là nghe nhạc. Nghe khó tin ư? Nếu xét theo số liệu của Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Quốc tế IFPI năm 2018 thì lượt xem video âm nhạc trên YouTube nhiều hơn lượt nghe nhạc của tất cả các nền tảng nghe nhạc trực tuyến cộng lại.

Hình ảnh lấn lướt những thanh âm

Sự phát triển thần tốc của MV trong vài chục năm qua có lẽ là sự đáp lại tất yếu dành cho nhu cầu của thính giả. Song cũng như MTV – kênh truyền hình đã tạo động lực đưa video âm nhạc trở thành yếu tố không thể thiếu trong công nghiệp ghi âm nhưng giờ đây chính nó cũng dẹp âm nhạc xuống hàng thứ yếu để nhường chỗ cho những chương trình tạp kỹ và truyền hình thực tế ăn khách, dường như một điều gì đó mang tính bản thể trong âm nhạc đang biến mất dần. Hình ảnh và vẻ bề ngoài ngày càng lấn lướt những thanh âm, nhất là trong những thị trường âm nhạc non nớt, lung lay tới tận gốc rễ, mà Việt Nam là một ví dụ điển hình.

Năm 2016, Soobin Hoàng Sơn phát hành “Phía sau một cô gái”, xoay vần hoàn toàn sự nghiệp âm nhạc của mình. Tính đến nay, ca khúc này đã đạt tới hơn 224 triệu lượt nghe qua lyrics video trên YouTube và hơn 390 triệu lượt nghe trên Zing MP3.

Năm 2016, Soobin Hoàng Sơn phát hành “Phía sau một cô gái”, xoay vần hoàn toàn sự nghiệp âm nhạc của mình. Tính đến nay, ca khúc này đã đạt tới hơn 224 triệu lượt nghe qua lyrics video trên YouTube và hơn 390 triệu lượt nghe trên Zing MP3. Vậy mà, Music Video (MV) của nó được phát hành sau đó lại chỉ đạt được lượt xem trên YouTube chưa bằng số lẻ của lyrics video. Quá u uất, lệch pha so với tưởng tượng, diễn xuất đơ cứng, đó là những gì người ta nói về MV “Phía sau một cô gái”. Sự thất bại của một MV, bỗng nhiên, lại bị coi là cú chững lại của một ca sĩ, điều đó cũng chẳng khác việc đánh giá thấp một bộ phim vì trailer hay poster của nó không bắt mắt là mấy. Nhưng ở Việt Nam là như thế, MV là một cán cân công lý minh định sức nóng sự nghiệp của người làm nhạc.

Trong khi đáng ra chỉ là một phần của sản phẩm âm nhạc, cuối cùng MV lại trở thành tất cả. Ngược lại, ca khúc hay bản ghi âm từ linh hồn giờ đây teo bé thành một phần phụ của MV, so ra thì chẳng quan trọng gì hơn áo quần và cốt truyện trong MV đó. Đến mức mà, ở Việt Nam, người ta chuyển sang phê bình… MV, tỉ như cho “Anh ơi ở lại” của Chi Pu 7 điểm, rồi “Hãy trao cho anh” của Sơn Tùng M-TP thì được 7,5 điểm.

Soobin Hoàng Sơn không thể leo lên đỉnh cao nhất của sự nghiệp chỉ vì hiệu ứng đi xuống của MV “Phía sau một cô gái”

Đây là một sự lạ, bởi ngay cả những trang báo hàng đầu về văn hóa nói chung và âm nhạc nói riêng như Rolling Stones, Pitchfork, NME, The Guardian, Variety… hay những nền tảng đánh giá như Metacritic, chưa ở đâu chấm điểm MV cả. Họ chỉ chấm điểm album hay liveshow, đến cả bài hát còn hiếm khi.

Vậy thì vai trò của một MV là gì mà lại được tập trung đầu tư nhiều đến thế? Thậm chí, rất nhiều nghệ sĩ còn coi MV là chiến lược phát triển chủ chốt cho con đường âm nhạc?

MV không phải là cốt lõi của âm nhạc

MV có lịch sử gần trăm năm, từ những năm 1920 – khi phim tiếng ra đời, với tiền thân là những bộ phim ca nhạc. Dẫu vậy, phải tới khoảng thập niên 60, thập niên bùng nổ về âm nhạc và truyền hình giải trí thì những MV thực sự mới được định hình. The Beatles có lẽ là những người đầu tiên có một chiến lược dài lâu với video ca nhạc, bắt đầu từ thành công ngoài sức tưởng tượng của bộ phim âm nhạc “A hard day’s night”, vốn dĩ được làm ra để quảng bá cho album cùng tên. Và đến “Strawberry fields forever”, The Beatles đã tạo nên một chuẩn mực cho nền công nghiệp âm nhạc sau này, khi video âm nhạc của họ không chỉ là những hình ảnh đi kèm ca khúc, mà tự thân nó là một tác phẩm avant-garde với những sắp đặt bất thường và thủ pháp quay mang tính thể nghiệm. Cũng từ đây, MV có một đời sống riêng, không hẳn là tách rời khỏi bản ghi âm, nhưng cũng không còn là sản phẩm đính kèm nữa.

Bộ phim âm nhạc “A hard day’s night”, được làm ra để quảng bá cho album cùng tên của The Beatles

Sau đó thì không cần kể nhiều, MTV ra đời, đánh dấu sự lên ngôi của MV. Không thể nói MV không phải một sản phẩm nghệ thuật. “Thriller” của Michael Jackson thậm chí còn được đưa vào Viện lưu trữ phim Quốc gia Hoa Kỳ bởi giá trị đặc biệt mang tính văn hóa – lịch sử – thẩm mỹ, tức là xếp chung cùng những kiệt tác điện ảnh như “Cuốn theo chiều gió”, “Công dân Kane”. Và rồi có rất nhiều đạo diễn lớn đã bắt đầu khởi nghiệp từ đây. Trước khi làm “Fight club”, “The curious case of Benjamin Button”“The social network”, David Fincher từng làm MV cho Michael Jackson, Madonna, Aerosmith. Còn Lasse Hallström, trước khi nhận đề cử Oscar cho “My life as a dog”, ông khởi nghiệp với công việc làm MV cho ABBA. Đến cả khi MTV đã đi xuống thì MV cũng không tàn lụi, nó chỉ chuyển sang một vòng đời mới còn dồi dào sức sống hơn: YouTube.

Mặc dù vậy, ngay từ buổi sơ khởi của mình, MV đã được định dạng vai trò là công cụ truyền thông và quảng bá nhằm thúc đẩy doanh số bán ca khúc và album. Chưa bao giờ khác, dù cho kỹ xảo làm MV có đi xa tới mức nào. Cốt lõi của âm nhạc vẫn luôn luôn là âm nhạc, như giải Grammy chẳng hạn, những hạng mục cao quý nhất là “Album của năm”, “Ghi âm của năm”, và Viện Hàn lâm cũng chẳng quan tâm liệu MV của các ca khúc đề cử tại hạng mục này hay hay dở, thậm chí không có MV cũng chẳng sao.

“Thriller” của Michael Jackson có công mở ra thời đại nhạc hình

Để làm rõ thêm, cũng phải nói rằng không thể nói MV không bán được. Với những siêu sao ca nhạc, cái gì họ cũng bán được, đến áo in mặt mình còn bán được, cho nên chẳng tội gì họ không bán cả MV. Như nghệ sĩ nhạc rock Bryan Adams, sau khi cho khán giả xem miễn phí các video âm nhạc chán chê, ông tổng hợp một loạt các video ca nhạc lại trong một album mang tên “So far so good”, và bán tới hơn 13 triệu bản trên toàn cầu.

Nhưng trong nền âm nhạc Việt Nam hiện nay, bán album còn khó, bán video album chắc là một chuyện không tưởng, và như thế, MV vẫn là sự cho không, vẫn chẳng có thị trường nào được tạo ra. Các nghệ sĩ “muốn qua sông phải lụy đò”, họ vẫn phải chịu sự chi phối quá lớn từ những nhà tài trợ. Âm nhạc vì thế mà ngày càng méo mó.

“Despacito” trở thành ca khúc được phát trực tuyến nhiều nhất mọi thời đại, với lượt xem từ YouTube chiếm đa số

Sự biến dạng của MV, sự biến dạng của âm nhạc

Ở phương Tây, có hai ngày từng được gọi là “ngày âm nhạc chết đi”, một là ngày chiếc phi cơ chở Buddy Holly, Ritchie Valens và The Big Bopper gặp tai nạn cướp đi sinh mạng của cả ba huyền thoại rock, và hai là ngày John Lennon bị ám sát. Còn ở Việt Nam, “ngày âm nhạc chết đi” có lẽ rất nhiều và ngày càng xuất hiện dồn dập hơn.

Không có một thị trường nghe đúng nghĩa, nghệ sĩ buộc phải lấp đầy sự nghiệp âm nhạc của mình bằng phần nhìn. Với chi phí sản xuất đắt đỏ lên đến 500 triệu tới 1 tỷ đồng, mỗi MV là một mảnh đất màu mỡ cho các nhãn hàng. Chỉ cần tài trợ một khoản tiền tương đối là thương hiệu có thể lồng ghép, kiểm soát thông điệp của MV. Mối quan hệ cộng sinh này chẳng có gì nguy hại cho đến khi cán cân giữa nghệ thuật và tiền bạc bị nghiêng hẳn về một bên.

Hồ Ngọc Hà triệt tiêu nghệ sĩ tính của mình bằng một sản phẩm tràn ngập quảng cáo

Kết quả cho ta một sản phẩm như “Vẻ đẹp 4.0” của Hồ Ngọc Hà, khi từ nội dung bài hát cho tới kịch bản MV đều phục vụ nhu cầu bán dịch vụ của nhà tài trợ. Dạo gần đây, tưởng như Tiki đã thống trị cả thị trường MV Việt, khi mà từ nam chính trong MV “Đừng yêu nữa, em mệt rồi” của Min đến nhân vật bạn gái của Erik trong MV “Anh ta là sao?”, rồi nàng Cám Chi Pu trong MV “Anh ơi ở lại?” và hằng hà sa số các nhân vật khác, dù trong bối cảnh MV hết sức khác nhau, không loại trừ cả cổ trang, mỗi người đều được dúi vào tay một gói hàng của Tiki với thông điệp “cần là có ngay”.

Không phải MV quốc tế không có quảng cáo, thậm chí MV quốc tế còn quảng cáo nhiều hơn gấp bội lần so với MV của các ca sĩ Việt Nam. Đếm sơ sơ trong “Telephone” của Lady Gaga cũng có tới chục nhãn hàng xuất hiện, nhân vật trong MV của cô đeo tai nghe HeartBeats, dùng điện thoại Virgin, máy tính HP, cuốn tóc bằng những lon Coke Diet… Âm nhạc quốc tế thương mại hóa tới mức các ca sĩ còn bán các suất đưa tên sản phẩm vào lời bài hát. Việc văn hóa pop sáp nhập cùng chủ nghĩa tiêu dùng và các siêu tập đoàn đã sớm được dự đoán từ khi Andy Warhol đặt bút vẽ những hộp sốt cà chua Campbell. Xem “What do you mean?” của Justin Bieber, người ta sẽ không bao giờ có cảm giác đó là một MV quảng cáo cho Calvin Klein. Hay nhận diện thương hiệu của Beats by Dre và son dưỡng môi EOS chỉ góp vào một phần rất nhỏ trong “We can’t stop” của Miley Cyrus.

Lady Gaga mang rất nhiều quảng cáo vào MV nhưng vẫn trao cho ca khúc của mình một diện mạo riêng

Nhưng cho dù các nghệ sĩ ấy đưa vào MV thật nhiều thương hiệu quảng cáo, thì phần thu âm của ca khúc vẫn có một đời sống rất riêng trong âm nhạc: tạo nên doanh số vật lý, xuất hiện trên radio, tồn tại trong các nền tảng nghe nhạc trực tuyến để mang lại lợi nhuận cho ca sĩ.

Còn tại Việt Nam, có cảm tưởng như rất lâu rồi, tất cả khái niệm âm nhạc chỉ được gói gọn trong MV. Ngày càng nhiều kỷ lục được thiết lập. Vô số cái tên tạo “trend”. Trong mắt khán giả giờ đây, âm nhạc phải là loại hình được thưởng thức trực quan chẳng khác gì phim ảnh. Còn đối với ca sĩ, một bài hát mà không có MV kèm theo thì cũng không được tính là một sản phẩm âm nhạc nữa.

Thời đại của những ca khúc độc lập với sức sống dai dẳng được nuôi dưỡng trong những thiết bị phát nhạc đơn thuần đã nhanh chóng bị thay thế bằng một thời đại của YouTube, của kịch bản drama, của meme ảnh chế, của nội dung viral… Việc mượn MV cho mục đích quảng cáo lộ liễu, đó không thể là lời ngụy biện để các nghệ sĩ đánh tráo khái niệm về âm nhạc.

Âm nhạc không thể nào là âm nhạc nếu chỉ đóng vai phụ trên sân khấu đáng ra là của nó.