Gen Z dường như là thế hệ “luôn được bàn tán” khi mang theo nhiều khác biệt so với các thế hệ trước. Hiện nay, họ cũng là thế hệ sớm chi phối 40% nền kinh tế thế giới. Thế nhưng, bên cạnh những điều có phần vĩ mô, Gen Z còn sở hữu nét chấm phá đầy thú vị như khả năng ngoại cảm phi thường, hoặc chí ít họ chọn tin vào trực giác của bản thân.

Trong một khảo sát gần đây của tờ The Guardian, khoảng ⅓ Gen Z tin rằng họ có khả năng ngoại cảm. Cứ mỗi tháng, niềm tin này sẽ lại được củng cố 2 lần. Nhưng ngoại cảm trong cách hiểu của Gen Z thực chất là gì? Liệu đó có phải là những kết nối với thế giới bên kia? Bản chất hoàn toàn không phải như vậy.

Gen Z cảm nhận sâu sắc năng lực ngoại cảm của mình khi họ trải qua những khoảnh khắc như tự nhiên biết điều gì đó không ổn mà không giải thích được, nhìn thấu những lời nói dối, cảm nhận được đã tới lúc phải rời đi, và vô số các tình huống ngẫu nhiên khác như biết trước một ai đó sắp nhắn tin tới hay đoán được ai đó sắp chuẩn bị nói gì. Những điều này nghe khá quen với các thế hệ tiền bối Millennials hay Boomers và có lẽ họ sẽ nói rằng: “Ở thế hệ chúng tôi, đó gọi là trực giác tốt”. Tuy nhiên, Gen Z và các thế hệ về sau lại có một suy nghĩ khác về khả năng dự đoán các tình huống của họ.

Trái với một số quan điểm cực đoan gắn nhãn niềm tin ấy như một triệu chứng “loạn thần”, thực tế lại đơn giản và mềm mại hơn nhiều. Theo The Guardian, điều mà Gen Z gọi là “ngoại cảm” trong một hệ quy chiếu khác của tâm lý học có thể được hiểu là khả năng nhận diện các khuôn mẫu, từ hành vi, môi trường đến những chuyển biến tinh vi trong thái độ con người. Và chính khả năng đọc vị ấy cho phép họ dự cảm điều gì có thể xảy ra tiếp theo.

“Thực ra, Gen Z có thể nhận thức rất tốt về thế giới xung quanh. Một phần là bởi họ sinh ra trong thời điểm toàn cầu có nhiều biến động. Sự phát triển mạnh mẽ của truyền thông cũng vô tình đẩy họ vào trạng thái “tiếp thu thụ động” mọi sự kiện của thế giới như làn sóng kinh tế bất ổn, biến đổi khí hậu, căng thẳng chính trị… Khi đứng trước quá nhiều thứ không thể kiểm soát, việc nghĩ rằng bản thân có khả năng ngoại cảm sẽ giúp họ tìm kiếm được một chút cảm giác kiểm soát được thế giới xung quanh”, tờ The Guardian nhận định.

Chính vì thế, niềm tin vào khả năng ngoại cảm hay những thực hành như thiền, chiêm tinh, luật hấp dẫn, luân hồi, thậm chí là nâng cao tần số rung động đều chỉ là phản ứng của một nhóm người phản ứng và thích nghi với nhịp chuyển động của thế giới xung quanh. Và khi những niềm tin này mang lại cảm giác ổn định nội tại, chúng dường như đóng vai trò tích cực hơn là trở thành một vấn đề cần hoài nghi. Với những ai đang tin vào khả năng ngoại cảm của bản thân, một điều đáng lưu tâm là cần phân định rạch ròi giữa trực giác và nỗi lo âu.
Adam Dickinson, cựu chuyên gia phân tích tình báo của FBI, hiện là cố vấn về các chiến lược tích hợp giữa logic và trực giác, đã đưa ra góc nhìn của mình: “Hãy ví như bộ não có hai phần: phần nhận thức được và phần không nhận thức được. Trong đó, trực giác nằm ở phần thứ hai. Trực giác đến rất nhanh, mang cảm giác nhẹ nhàng và ổn định, âm thầm chỉ cho bạn điều gì là phù hợp. Xét về mặt tâm lý, trực giác là cách cơ thể bạn nén lại nhiều năm kinh nghiệm, phân loại chúng thành một số khuôn mẫu và với một số khuôn mẫu sẽ có kèm một vài tín hiệu. Bằng cách đọc khuôn mẫu và tín hiệu, bạn có thể dự đoán trước được một số điều có thể xảy ra”.

Đó là những dấu hiệu của trực giác và cách trực giác hoạt động. Tuy nhiên, có tới 35% người thừa nhận rằng họ không thể phân biệt được đâu là trực giác thật sự và đâu chỉ là lo âu. Với những người này, Dickinson có lời khuyên: “Lo âu là một dạng nhiễu tâm trí nặng nề và mọi suy nghĩ trong đầu bạn trở nên hỗn loạn. Lo âu kéo bạn vào những viễn cảnh ‘nếu như’ bất tận thay vì ở lại với hiện tại. Đây cũng là cách tâm trí cố mô phỏng mọi kết quả có thể xảy ra để cảm thấy an toàn, vì thế nó mang lại cảm giác bó buộc, lặp đi lặp lại và không bao giờ bạn thực sự cảm thấy yên ổn”.

Lo âu là một cơ chế sinh tồn của cơ thể. Về bản chất, nó chỉ đang cố bảo vệ bạn khỏi những tình huống nguy hiểm có thể xảy ra. Tuy nhiên, lo âu quá mức lại giống như “chung sống” với một người bạn đời có xu hướng bảo bọc tới mức kiểm soát. Bằng cách che chở bạn khỏi mọi tình huống, lo âu quá mức có thể khiến bạn sợ hãi trước những điều có thể sẽ không bao giờ xảy ra và đồng thời cướp đi của bạn cơ hội được trải nghiệm nhiều điều mới mẻ.
Một bài kiểm tra đơn giản bạn có thể thử theo hướng dẫn của Dickinson là: Khi bạn chậm lại và mọi thứ trở nên yên lặng, tiếng nói bên trong có vang lên một cách nhẹ nhàng không? Nếu có, đó là trực giác. Hay nó mang cảm giác khẩn cấp, chỉ trích và lặp lại liên tục? Giọng điệu gấp gáp, đòi hỏi đó thường là lo âu đang cố kiểm soát sự bất định, chứ không phải trí tuệ sâu bên trong bạn đang lên tiếng.