#DEPPOV – Grammy thêm 5 hạng mục mới, chiêu bài hay sự công nhận dành cho âm nhạc châu Á?

Giải thưởng âm nhạc lớn nhất hành tinh Grammy bổ sung thêm 5 hạng mục mới vào hệ thống, đồng thời nới lỏng việc xét duyệt hạng mục “Best New Artist”. Ngay từ khi công bố, những thay đổi này đã thu hút hàng loạt ý kiến trái chiều lẫn sự háo hức chờ đợi vào mùa giải 2027. 

Luật chơi mới

Dù còn hơn nửa năm, Grammy đã rục rịch cho mùa trao giải 2027 bằng một thay đổi có khả năng định hình lại nền âm nhạc toàn cầu: nới lỏng điều kiện tham gia hạng mục “Best New Artist” khi nâng ngưỡng số lần gửi tác phẩm từ ba lên bốn lần trong sự nghiệp. Điều này phản ánh nhận thức rằng việc xây dựng tên tuổi với khán giả là một quá trình dài hơi, không thể đo bằng một vài lần xuất hiện. Nhưng nhìn lại những mùa giải trước, hạng mục này luôn gặp phải ý kiến trái chiều từ công chúng, khiến thay đổi này vừa mang tinh thần tiếp thu phản hồi vừa mở ra cơ hội cho nhiều nghệ sĩ triển vọng hơn.

Olivia Dean – Chủ nhân của giải “Best New Artist” năm 2026. Ảnh: Billboard

Harvey Mason Jr., CEO của Recording Academy chia sẻ: “Với hạng mục ‘Best New Artist’, chúng tôi đã nhận được phản hồi từ cộng đồng âm nhạc rằng cách thức phát triển nghệ sĩ đang thay đổi, và thời gian để đạt được thành công hoặc được công nhận có thể kéo dài hơn so với trước đây. Các nghệ sĩ thường phát hành nhiều sản phẩm âm nhạc hơn trước khi thực sự tạo được tiếng vang trong lòng người tiêu dùng hoặc các cử tri của chúng tôi, và sự thay đổi đó ảnh hưởng trực tiếp đến hạng mục này. Những thay đổi được thực hiện đối với hạng mục này sẽ cho phép linh hoạt hơn một chút và phản ánh thực tế rằng quá trình phát triển nghệ sĩ hiện nay khác so với vài năm trước. Tất cả đều nhằm mục đích đảm bảo quy trình của chúng tôi phản ánh những gì đang diễn ra trong ngành công nghiệp âm nhạc hiện nay.”

Chủ nhân của “Best New Artist” năm 2022 là Olivia Rodrigo. Ảnh: Billboard

Grammy cũng cập nhật ngưỡng số lượng bản thu âm mới trong một album đủ điều kiện tham gia. Trước đây, các album phải đạt 75% bài hát mới, nay chỉ cần 66%, phần còn lại có thể bao gồm bản phối lại, phiên bản live hoặc các ca khúc ra mắt từ trước trong khuôn khổ album. Thay đổi này phản ánh thực tế thị trường do đĩa đơn được các nghệ sĩ ưu chuộng hơn vì dễ quảng bá trên mạng xã hội và kích thích sự tò mò của công chúng trước các sản phẩm tiếp theo. Trong thời đại streaming, một ca khúc thường có nhiều phiên bản nhằm tăng lượt nghe trên Spotify, Apple Music hay YouTube Music. Ranh giới giữa album truyền thống và các phiên bản mở rộng vì vậy ngày càng trở nên linh hoạt hơn.

Taylor Swift nhận về hai chiếc kèn vàng tại hạng mục “Album of the Year” và “Best Pop Vocal Album” tại Grammy năm 2024. Ảnh: Billboard

Grammy cũng mở rộng sự công nhận dành cho nhạc sĩ và nhà soạn nhạc. Các nhạc sĩ sáng tác cho tác phẩm mới trong album đoạt giải ở hầu hết các hạng mục sẽ nhận được tượng Grammy và Giấy chứng nhận Thành tựu tương đương. Harvey Mason Jr. nhấn mạnh: “Tất cả đều bắt đầu từ các nhạc sĩ; không có giải thưởng nào thực sự có thể diễn ra nếu thiếu nhạc sĩ. Điều thực sự quan trọng là họ cảm thấy được công nhận và tôn vinh giống như các nhà sản xuất và kỹ sư âm thanh.”

5 hạng mục mới cùng câu chuyện phân biệt không hồi kết

Bên cạnh việc nới lỏng luật lệ, điều khiến Grammy gây tranh cãi dữ dội nằm ở việc bổ sung 5 hạng mục mới: “Best R&B Collaboration or Duo/Group Performance”, “Best Traditional Pop Vocal Performance”, “Best Traditional Folk Album”, “Best Latin Song”, đặc biệt  là “Best Asian Pop Music Performance”. 

Grammy từ lâu được xem là sân chơi dành riêng cho thị trường Âu Mỹ. Từ trước đến nay, cực kỳ hiếm nghệ sĩ ngoài lục địa này giành một trong bốn hạng mục lớn nhất, ngoại trừ Stan Getz & João Gilberto giành “Album of the Year” năm 1965 cho “Getz/Gilberto” với phần lớn lời hát tiếng Bồ Đào Nha, Domenico Modugno với “Nel blu dipinto di blu (Volare)” giành cả “Record of the Year” lẫn “Song of the Year” năm 1959, và “Debí Tirar Más Fotos” của Bad Bunny trở thành album tiếng Tây Ban Nha đầu tiên thắng “Album of the Year” năm 2026. Còn lại, phần lớn các ca khúc, album hay nghệ sĩ được vinh danh đều trình bày bằng tiếng Anh từ khi ra đời vào năm 1958. Trong bối cảnh đó, việc Grammy thêm “Best Asian Pop Music Performance” đã châm ngòi cho làn sóng tranh luận không nhỏ.

Bad Bunny trở thành nghệ sĩ sở hữu album tiếng Tây Ban Nha đầu tiên thắng “Album of the Year” năm 2026. Ảnh: Billboard

Nếu “Best Latin Song” không tạo ra nhiều phản ứng dữ dội, điều đó phần nào dễ hiểu bởi âm nhạc Latin từ lâu đã trở thành một phần quan trọng của thị trường Mỹ. Việc bổ sung hạng mục này mang tính công nhận chính thống cho một dòng nhạc vốn đã có vị trí rõ ràng trong hệ sinh thái Grammy. Ngược lại, “Best Asian Pop Music Performance” lại mang đến cảm giác nước đôi. Theo Harvey Mason Jr., “Nhạc pop châu Á là một trong những thế lực quan trọng và bền vững nhất của ngành công nghiệp âm nhạc toàn cầu. Tác động của nó đã được khẳng định và tiếp tục phát triển, định hình văn hóa âm nhạc trên toàn thế giới”. Tuyên bố này vừa thừa nhận sức ảnh hưởng ngày càng lớn của âm nhạc châu Á, vừa khiến nhiều người đặt câu hỏi liệu Grammy đang mở rộng cánh cửa hay vô tình tạo ra một không gian riêng cho các nghệ sĩ châu Á thay vì để họ cạnh tranh trực tiếp ở những hạng mục truyền thống.

“Golden” trở thành nhạc phim đến từ Hàn Quốc càn quét các lễ trao giải lớn như Oscar, Emmy đến Grammy. Nhưng vấn đề nằm ở chỗ, ca khúc được trình bày hoàn toàn bằng tiếng Anh trong một bộ phim hoạt hình với lời thoại bằng tiếng Anh. Ảnh: Billboard

Thực tế, nghệ sĩ châu Á không phải đến bây giờ mới xuất hiện tại các hạng mục chính. BTS từng nhận đề cử “Best Pop Duo/Group Performance” với “Dynamite” vào năm 2021, “APT.” của Rosé góp mặt ở “Record of the Year”, còn “Golden” từ bộ phim “K-pop Demon Hunters” lọt vào “Song of the Year” năm 2026. Những đề cử này cho thấy âm nhạc châu Á hoàn toàn có khả năng cạnh tranh trong hệ thống Grammy truyền thống. Tuy nhiên, cả ba tác phẩm đều được trình bày hoàn toàn bằng tiếng Anh. Điều đó cũng phản ánh một thực tế khác, các nghệ sĩ châu Á thường bước vào những hạng mục lớn bằng những sản phẩm mang tính toàn cầu hóa thay vì thông qua ngôn ngữ bản địa.

Ca khúc “APT.” của Rosé dù được nhận đề cử “Record of the Year” năm 2026 thì cũng được trình bày hoàn toàn bằng tiếng Anh. Ảnh: Billboard

Trong khi đó, các nền âm nhạc khác như J-pop, V-pop, T-pop, C-pop lại lấy giai điệu và ngôn ngữ bản địa làm xương sống định hình bản sắc riêng. Như vậy, Grammy đang công nhận “nhạc pop châu Á” theo nghĩa nào khi gộp tất cả vào một hạng mục duy nhất, dù tiêu chí yêu cầu tác phẩm phải sử dụng ngôn ngữ châu Á một cách có ý nghĩa và không chỉ là vài từ đệm hay cụm từ ngắn trong bài hát trình bày bằng tiếng Anh? Trong khi sự khác biệt giữa một bản ballad J-pop đậm chất dàn nhạc giao hưởng, một ca khúc C-pop mang âm hưởng ngũ cung, một bài V-pop kết hợp quan họ với nhịp điện tử và một màn trình diễn K-pop chuẩn từng milimet về vũ đạo lẫn hình ảnh là khoảng cách không thể thu hẹp chỉ bằng chữ “châu Á”. 

Grammy dù đưa ra yêu cầu cho hạng mục “Best Asian Pop Music Performance” phải được sử dụng bằng ngôn ngữ của của dân tộc, thì với một nền văn hóa Á Đông đa dạng với nhiều quốc gia khác nhau kèm theo rất nhiều ngôn ngữ, Grammy sẽ đánh giá như thế nào để cho một bài hát châu Á giành chiến thắng ở hạng mục này. Ảnh: Antiantiart

Để so sánh, âm nhạc Latin hiện sở hữu 6 hạng mục riêng biệt trong hệ thống Grammy, tính cả hạng mục mới vừa bổ sung, bao phủ từ nhạc pop, nhạc đô thị đến nhạc truyền thống, cùng với Lễ trao giải Latin Grammy do Latin Recording Academy tổ chức từ năm 2000. Toàn bộ châu Á, với hàng chục nền âm nhạc có lịch sử hàng thế kỷ, nhận được duy nhất một hạng mục. Đặt cạnh nhau, sự thiếu cân xứng đã tự nói lên tất cả.

Nhạc Latin hiện sở hữu 6 hạng mục riêng biệt trong hệ thống Grammy. Ảnh: Sakira tại Grammy Latin năm 2025/Billboard

Lịch sử của giải Latin Grammy đưa ra một tiền lệ đáng suy ngẫm bởi dù các hạng mục Latin tồn tại từ thập niên 1970, phải đến tận năm 2026, “Debí Tirar Más Fotos” của Bad Bunny mới trở thành album tiếng Tây Ban Nha đầu tiên thắng “Album of the Year.” Suốt hơn nửa thế kỷ, sự hiện diện của một không gian riêng không đồng nghĩa với sự bình đẳng trong cuộc chơi chính. Khi đã có hạng mục dành riêng, nghệ sĩ châu Á sẽ được định hướng tự nhiên về phía đó thay vì được cân nhắc cho các hạng mục lớn. 

Ai cũng chạy theo danh tiếng

Mặt khác, cũng không thể phủ nhận giá trị thực tiễn của sự hiện diện. Trước khi có hạng mục này, âm nhạc Á Đông thực sự đều không tồn tại trong Grammy. Từ không có gì đến có một hạng mục là khoảng cách không nhỏ, dù khoảng cách từ hạng mục đó đến sân khấu chính vẫn còn rất xa.

Không thể phủ nhận, việc Grammy đưa hạng mục “Best Asian Pop Music Performance”, các thị trường âm nhạc trong khu vực sẽ có thêm động lực đầu tư vào sản xuất, sáng tác và chiến lược phát hành với tham vọng vượt ra ngoài biên giới quốc gia. Ảnh: Nhóm nhạc XG đến từ quốc gia Nhật Bản

Sự tồn tại của một hạng mục riêng cũng có thể tạo ra hiệu ứng cạnh tranh tích cực. Khi một giải thưởng lớn chính thức thừa nhận “Best Asian Pop Music Performance”, các thị trường âm nhạc trong khu vực sẽ có thêm động lực đầu tư vào sản xuất, sáng tác và chiến lược phát hành với tham vọng vượt ra ngoài biên giới quốc gia. Tương tự cách điện ảnh Hàn Quốc từng phát triển mạnh sau khi liên tục được ghi nhận tại các liên hoan phim quốc tế, một hạng mục mang tính biểu tượng có thể trở thành chất xúc tác thúc đẩy J-pop, V-pop, C-pop hay T-pop nâng cao tiêu chuẩn nghệ thuật và kỹ thuật. Mục tiêu ban đầu có thể là chiến thắng ở hạng mục dành riêng cho châu Á, nhưng tham vọng lớn hơn lại nằm ở việc biến những tác phẩm sử dụng ngôn ngữ bản địa trở thành ứng cử viên thực sự cho “Record of the Year”, “Song of the Year” hay “Album of the Year”. Nếu điều đó xảy ra, hạng mục mới sẽ không còn là điểm đến cuối cùng mà trở thành bệ phóng đưa âm nhạc châu Á tiến vào trung tâm của hệ thống Grammy.

Ảnh: nhóm nhạc No Na đến từ Indonesia

Để hiểu trọn vẹn động lực đằng sau những thay đổi này, cần nhìn Grammy như một bộ máy vận hành theo logic kinh doanh song song với sứ mệnh âm nhạc. Thế lực K-pop nói riêng và châu Á nói chung vừa sản xuất âm nhạc, vừa tạo ra một lực lượng người hâm mộ có tổ chức, có kỷ luật và có khả năng chi tiêu mà bất kỳ thương hiệu toàn cầu nào cũng muốn khai thác. Lượt stream, doanh thu bán đĩa, lưu lượng tham dự lễ trao giải, độ phủ sóng trên mạng xã hội đều là những chỉ số Grammy cần để duy trì vị thế trong thời đại mà sức ảnh hưởng của một giải thưởng âm nhạc phụ thuộc nhiều vào mức độ hiện diện số hơn uy tín học thuật. Việc thêm “Best Asian Pop Music Performance” vào danh sách do đó có thể vừa là hành động thiện chí vừa là nước đi chiến lược khi Grammy đang mở rộng cánh cửa, nhưng đồng thời kiểm soát cánh cửa đó mở ra ở đâu và dẫn vào phòng nào.

Việc thêm hạng mục tranh giải cho châu Á cũng là cách để Grammy duy trì sức ảnh hưởng. Ảnh: Hoa Thần Vũ – một trong những ca sĩ lớn nhất tại Trung Quốc hiện giờ

Như cách mà Harvey Mason Jr. trả lời về hướng đi tiếp theo của Grammy lẫn ngành công nghiệp âm nhạc: Toàn bộ ngành công nghiệp đang phát triển nhanh chóng, và đây là thời điểm thú vị đối với âm nhạc. Có rất nhiều sự sáng tạo, rất nhiều sản phẩm âm nhạc được tạo ra, và cũng có rất nhiều sự tiêu thụ. Có cảm giác như chúng ta đang ở một vị thế rất tốt, và tôi nghĩ điều tương tự cũng đúng với tổ chức của chúng ta. Giải Grammy đã phát triển. Chúng ta đã xây dựng dựa trên những gì đã làm trong 68 năm qua và sẽ tiếp tục làm như vậy. Những thay đổi này phản ánh rằng chúng ta đang lắng nghe một cách chăm chú các thành viên và cộng đồng âm nhạc, và chúng ta rất nhận thức, với đôi mắt mở to, về cách thức kinh doanh đang tiến lên phía trước. Chúng ta sẽ tiếp tục làm điều đó thông qua các quy trình của mình, lắng nghe các thành viên và cộng đồng âm nhạc rộng lớn hơn. Đây là một vị thế tuyệt vời đối với chúng ta, cả với tư cách là một ngành công nghiệp và với tư cách là tổ chức Grammy”. 


From the same category