Chưa ghi nhận chữa khỏi ung thư chỉ bằng chế độ thực dưỡng

Sức Khỏe

Giáo sư Mai Trọng Khoa cho hay, có không ít người bệnh đó đã tử vong do suy kiệt trước khi bị chết vì ung thư. Quan điểm “bỏ đói tế bào ung thư” là nhận thức không đúng.

Gần đây, có nhiều thông tin được đăng tải cho rằng người mắc bệnh ung thư có thể chữa khỏi được bằng chế độ thực dưỡng.

Giáo sư Mai Trọng Khoa – nguyên Giám đốc Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu (Bệnh viện Bạch Mai) cho hay, trong suốt nhiều năm ông làm lâm sàng chưa ghi nhận trường hợp nào chữa khỏi bệnh ung thư chỉ bằng chế độ thực dưỡng.

Giáo sư Mai Trọng Khoa kể, ông không khỏi xót xa khi chứng kiến cảnh một số người bệnh sau khi nhận được thông báo kết quả của bệnh viện thì bỏ mọi phác đồ điều trị do bác sỹ tư vấn, bỏ bệnh viện, người bệnh về nhà tự ăn theo chế độ “bỏ đói tế bào ung thư”, rồi tu luyện theo một pháp môn nào đó. Kết quả, khi trở lại bệnh viện, người bệnh đó rơi vào tình trạng suy kiệt nặng, nhiều bệnh nhân lúc phát hiện mới ở giai đoạn rất sớm có nhiều cơ hội điều trị thì giờ đã vào giai đoạn 3, giai đoạn 4, thậm chí giai đoạn cuối trên một thân thể suy kiệt.

Phương pháp điều trị bệnh ung thư bằng xạ trị. (Ảnh: T.G/Vietnam+)

Vì vậy, người bệnh khi tới viện, thay vì áp dụng phác đồ điều trị, các bác sỹ lại phải chống suy kiệt bằng việc truyền đạm, đường, các chất dinh dưỡng… để nâng cao thể trạng cho người bệnh. Không ít trong số những người bệnh đó đã tử vong do suy kiệt trước khi bị chết vì ung thư.

Giáo sư Khoa nhấn mạnh, mọi việc cần dựa trên thực chứng và được kiểm chứng rõ ràng. Trong Y học hiện đại, dinh dưỡng lâm sàng được coi là một phương pháp điều trị phối hợp cùng với thuốc và các phương pháp điều trị khác. Quan điểm “bỏ đói tế bào ung thư” là nhận thức không đúng. Điều này dẫn đến người bệnh bị suy kiệt.

“Chúng ta cần hiểu rõ bản chất của vấn đề: Đó là cần có một cơ thể khỏe mạnh, thì mới tạo ra hệ thống miễn dịch tốt, khỏe mạnh thì mới có các tế bào miễn dịch khỏe mạnh đủ khả năng phát hiện, ức chế, tiêu diệt các tác nhân gây bệnh – trong đó có tế bào ung thư. Bản thân tế bào ung thư cũng cần dinh dưỡng và chúng sẽ lấy dinh dưỡng từ chính người bệnh. Nếu người mắc ung thư không được cung cấp đủ năng lượng, người bệnh sẽ gầy sút, suy kiệt, không đủ sức khỏe để chống chọi với bệnh tật cũng như không đáp ứng được với các phương pháp điều trị đặc hiệu như phẫu thuật, xạ trị, hóa trị…,” giáo sư Khoa chỉ rõ.

Giáo sư Khoa khuyến cáo người bệnh và gia đình người bệnh không nên cả tin, tốn kém tiền bạc, thời gian để rồi đánh mất cơ hội điều trị chính thống ngay từ giai đoạn vàng.

Trong điều trị ung thư, bên cạnh các phương pháp điều trị như hóa trị, xạ trị, phẫu thuật, điều trị nội tiết, điều trị đích, gần đây có thêm một phương pháp mới là điều trị miễn dịch. Nếu các phương pháp trước kia tác động và tiêu diệt trực tiếp các tế bào ác tính bằng phẫu thuật, hóa chất, xạ trị, điều trị đích… thì hiện nay, bằng phương pháp điều trị miễn dịch tức là giúp các tế bào miễn dịch (tế bào T…) của hệ thống miễn dịch nhận diện và tiêu diệt tế bào khối u. Đây là phương pháp điều trị gián tiếp và để có một hệ thống miễn dịch khỏe mạnh thì cần một cơ thể đủ khỏe.

“Do vậy, người bệnh cần một chế độ ăn uống hợp lý, khoa học đủ chất… Cần phải coi ăn uống, dinh dưỡng hợp lý, khoa học là một phần không thể thiếu trong việc phòng và chống ung thư,” giáo sư Khoa nhấn mạnh.

Bài: VietnamPlus

26/11/2019, 15:46

Nhiệt độ Trái Đất tăng làm tăng nguy cơ đột quỵ ở người lớn tuổi

Sức Khỏe

Các nhà nghiên cứu xác định được mối liên hệ chặt chẽ giữa nhiệt độ và cơn đột quỵ ở dạng tắc mạch máu cao hơn loại đột quỵ vỡ mạch máu gây xuất huyết não.

Nghiên cứu cho thấy cứ nhiệt độ tăng 1 độ C, nguy cơ đột quỵ tăng 10% trong thời gian 6 ngày. (Nguồn: ALAMY STOCK)

Một nghiên cứu của Israel đăng tải trên tờ Israel Hayom ngày 8/1 chỉ ra rằng Trái Đất ấm lên làm gia tăng nguy cơ đột quỵ ở những người trên 50 tuổi.

Các nhà nghiên cứu thuộc Đại học Haifa đưa ra kết luận trên căn cứ số liệu báo cáo về tình trạng đột quỵ của Bộ Y tế nước này.

Các tác giả nghiên cứu xác định được mối liên hệ giữa nhiệt độ cao của môi trường sinh hoạt với nguy cơ đột quỵ trong những ngày Hè nóng nực.

Cụ thể, nghiên cứu cho thấy cứ nhiệt độ tăng 1 độ C, nguy cơ đột quỵ tăng 10% trong thời gian 6 ngày.

Cụ thể hơn, các nhà nghiên cứu xác định được mối liên hệ chặt chẽ giữa nhiệt độ và cơn đột quỵ ở dạng tắc mạch máu cao hơn loại đột quỵ vỡ mạch máu gây xuất huyết não.

Xem xét hồ sơ bệnh án của của các bệnh nhân đột quỵ, các nhà nghiên cứu xác định khoảng thời gian ủ bệnh là 6 ngày và đều xảy ra ở nam và nữ giới ở độ tuổi trên 50.

Đột quỵ còn được gọi là tai biến mạch máu não. Đây là tình trạng não bộ bị tổng thương nghiêm trọng do quá trình cung cấp máu não bị gián đoạn hoặc giảm đáng kể khiến não bộ bị thiếu ôxy.

Người bị đột quỵ cần được cấp cứu ngày lập tức, thời gian kéo dài càng lâu, số lượng tế bào não chết càng nhiều, sẽ ảnh hưởng lớn đến khả năng vận động, tư duy của cơ thể, thậm chí là tử vong.

Hầu hết người sống sót sau đột quỵ đều có sức khỏe suy yếu hoặc mắc các di chứng như tê liệt hoặc cử động yếu một phần cơ thể, mất ngôn ngữ, rối loạn cảm xúc, thị giá suy giảm.

Do đó, trong nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu Israel khuyến cáo những người có nguy cơ đột quỵ cần thận trọng và ở trong môi trường điều hòa không khí trong những ngày nóng.

Theo Tổ chức Đột quỵ thế giới, hằng năm trên thế giới có 15 triệu người bị đột quỵ và có khoảng 5,8 triệu người chết vì nguyên nhân này.

Tưởng như vô hại nhưng “thèm ngọt” lại là biểu hiện của chứng nghiện đường hóa học vô cùng nguy hiểm

Sức Khỏe

Có nhiều người luôn cảm thấy dường như họ chưa thật sự kết thúc bữa ăn chính nếu không ăn tráng miệng. Đây là một trong những biểu hiện dễ thấy nhất của những người thèm ngọt. Thế nhưng, ít người biết rằng đường thậm chí còn gây nghiện hơn cả cocaine và ảnh hưởng không tốt cho sức khỏe về lâu dài.

Đường hóa học gây nghiện hơn cocaine

Đường hóa học (chất tạo ngọt nhân tạo, có độ ngọt gấp trăm lần hoặc có thể hơn thế so với vị ngọt của đường tự nhiên, không cung cấp hoặc cung cấp rất ít năng lượng) trong một chừng mực nhất định sẽ không có hại. Tuy nhiên việc tiêu thụ quá nhiều sẽ dẫn đến những tác hại khôn lường cho sức khỏe như béo phì, tiểu đường loại 2, trầm cảm… Theo Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ (AHA), lượng đường tối đa nên nạp trong một ngày là 150 calories với nam giới (37.5 gram hoặc 9 muỗng cà phê) và 100 calories với nữ giới (25 gram hoặc 6 muỗng cà phê).

Thế nhưng, phần lớn thức ăn công nghiệp, nước ngọt, bánh kem, kẹo… đều chứa nhiều đường hóa học, khiến cơ thể chúng ta dung nạp đường nhiều hơn mức trung bình cần mỗi ngày. Tính gây nghiện của đường thậm chí còn nhỉnh hơn cocaine khi một nghiên cứu về sự hấp dẫn của đường đối với động vật trên tạp chí Plos One cho thấy: có đến 94% số chuột thử nghiệm “yêu thích” nước ngọt thay vì cocaine.

Đường làm tăng hàm lượng dopamine (chất dẫn truyền thần kinh trong các vùng não có chức năng điều tiết cảm xúc, đóng vai trò then chốt dẫn đến sự nghiện ngập) không khác gì cocaine. Khi một hành động gây ra sự giải phóng quá mức của “hoocmon hạnh phúc” nói trên, chúng ta sẽ có xu hướng lặp lại hành động đó để trải nghiệm lại. Hành động đó được lặp lại càng nhiều, não bộ sẽ càng giải phóng lượng dopamine ít. Lúc này, nếu muốn tiếp tục cảm nhận cảm giác hạnh phúc ấy, bạn phải lặp lại hành động ấy với tần suất nhiều hơn.

Vậy chúng ta đã nghiện đường như thế nào?

Chứng nghiện đường hay còn được gọi là sự phụ thuộc cảm xúc hoặc tâm lý vào thức ăn và đồ uống có đường. Chính sự gắn kết trên khiến chúng ta vô tình phụ thuộc vào nó. Những người đang phải đối mặt với chuyện tình tan vỡ hoặc căng thẳng về mặt cảm xúc thường có khuynh hướng tự an ủi bản thân bằng các món ngọt như chocolate, kem, bắp rang, bánh ngọt, trà sữa… Tuy nhiên, việc lạm dùng đường để giải quyết các vấn đề tinh thần, cảm xúc về lâu dài không chỉ làm tăng cân và giảm khả năng tập trung, mà còn gây ra cảm giác bất lực, cảm thấy giá trị bản thân bị hạ thấp, từ đó dẫn đến việc nạp đường vào cơ thể ngày một nhiều hơn.

Tương tự như các chứng nghiện nói chung, nghiện đường tiềm ẩn nguy cơ đặc biệt đối với người hay phiền muộn, âu lo và căng thẳng. Người nghiện đường sẽ rơi vào tình trạng ăn không kiểm soát, dẫn đến trầm cảm, quẫn trí và mất tự chủ. Các dấu hiệu rõ ràng nhất là tiêu thụ một lượng lớn thực phẩm hoặc đồ uống chứa nhiều đường, và luôn cảm thấy thèm ngọt mỗi khi cáu kỉnh, căng thẳng hoặc khó chịu.

Đường hóa học sẽ làm mù hệ thần kinh và gây ức chế, khiến chúng ta luôn nghĩ về đồ ngọt, thậm chí khi đã no vẫn ăn không thể dừng: “Những người nghiện đường sẽ luôn bị phân tâm bởi thực phẩm và không bao giờ có thể thoả mãn. Họ luôn cảm thấy bữa ăn chỉ có thể trọn vẹn khi ăn thêm một chút đồ ngọt tráng miệng. Nói cách khác, thực phẩm có đường sẽ gây ra khuyết tật về cảm giác” – Tamara Melton, chuyên gia dinh dưỡng khẳng định tác hại khôn lường của việc nạp đường vô tội vạ.

Làm sao để ngăn chứng nghiện đường, làm giảm cảm giác thèm đồ ngọt?
– Điều chỉnh vị giác bằng cách không chỉ hạn chế lượng đường ăn vào, mà còn làm cho thức ăn ít ngọt hơn.
– Mỗi khi cảm thấy thèm ngọt, hãy uống một ly nước hoặc ăn trái cây (chuối, cam, táo…).
– Ăn thức ăn giàu protein để no lâu hơn.
– Ăn đúng buổi và đủ bữa để tránh cảm giác đói.
– Ngủ đủ giấc, hạn chế thức khuya để không “buồn miệng” nạp thêm đồ ngọt.
– Tập thể dục đều đặn để giảm áp lực trong cuộc sống, tiêu hao năng lượng thừa.

Bác sĩ Húng Ngò: bệnh viêm cơ tim không có bằng chứng lây lan như lời đồn

Sức Khỏe

Mấy ngày nay, trên mạng xã hội lan truyền thông tin một số khu vực ở Hà Nội như Chùa Bộc, bệnh viện Bạch Mai, bệnh viện Đại học Y có virus nguy hiểm gây viêm cơ tim, có thể dẫn đến tử vong trong một thời gian ngắn. Thông tin này đang được cư dân mạng chia sẻ tràn lan khiến nhiều người hoang mang lo lắng. Đốc tờ Húng Ngò (Facebook của bác sĩ Ngô Đức Hùng – PV) cho biết: “Để nói căn bệnh này lây cho người khác thì chả có bằng chứng gì. Nếu nó lây dễ thế nhẽ rằng viện Bạch Mai, trường Y nhân viên chắc chết chả còn một mống.”

Bác sĩ Ngô Đức Hùng (Hùng Ngô) – tác giả cuốn sách “Để yên cho bác sĩ hiền” (bác sĩ của khoa cấp cứu A9, Bệnh viện Bạch Mai, giảng viên của Đại học Y Hà Nội) – là cái tên quen thuộc với nhiều người sử dụng Facebook (chủ nhân của Fanpage Đốc tờ Húng Ngò) cho biết: viêm cơ tim do nhiều nguyên nhân gây ra như vi khuẩn, virus, độc tố… Ngay cả những virus thông thường khi nhiễm vào người như virus cúm, virus Dengue, sởi… chúng tấn công vào tất cả các cơ quan trong đó có cả quả tim, làm tim suy rất nhanh rồi tử vong. Bệnh này có nhiều năm nay, năm nào cũng lẻ tẻ vài ca. Trước đây tỉ lệ chết lên đến 90%, tuy nhiên vài năm gần đây, kỹ thuật cao phát triển, tỉ lệ tử vong giảm xuống còn khoảng 30%.

Đồng thời bác sĩ Hùng Ngô cũng khẳng định, thời gian gần đây, khi tin đồn “virus viêm cơ tim” gây chết người xuất hiện tràn lan thì bệnh nhân còn ít hơn các mùa khác, và không có bằng chứng căn bệnh này lây từ người sang người.

Bác sĩ Ngô Đức Hùng (Hùng Ngô) – tác giả cuốn sách “Để yên cho bác sĩ hiền”, bác sĩ của khoa cấp cứu Bệnh viện Bạch Mai, giảng viên của Đại học Y Hà Nội, là cái tên quen thuộc với nhiều người sử dụng Facebook (chủ nhân của Fanpage Đốc tờ Húng Ngò) với các bài viết về y học đầy hóm hỉnh đả kích lại các thông tin y học sai lệch trên mạng xã hội Facebook.

Toàn bộ thông tin về “virus viêm cơ tim” được bác sĩ Hùng Ngô chia sẻ trên trang Fanpage Đốc tờ Húng Ngò như sau:

“Hai hôm nay mạng xã hội tự nhiên rộ lên bệnh dịch… viêm cơ tim và các anh chị em thi nhau khuyến cáo thay cho các bác sĩ. Rằng thì là mà đừng đi qua mấy cái đường có người chết kẻo mang họa. Tôi cũng kỳ vọng nhân dân sợ xoắn vào đừng ra ngoài nữa cho đường thông hè thoáng, có khi thế lại giảm bớt được tai nạn giao thông.

Viêm cơ tim do nhiều nguyên nhân gây ra, vi khuẩn, virus, độc tố… Ngay cả những con virus thông thường khi nhiễm vào người như con virus cúm, con virus Dengue, con sởi… chúng tấn công vào tất cả các cơ quan trong đó có cả quả tim, làm chúng suy rất nhanh rồi tử vong. Bệnh này có nhiều năm nay, năm nào cũng lẻ tẻ vài ca, khi nào thì chúng tấn công vào quả tim thì đến nay chưa rõ lắm. Trước đây tỉ lệ chết lên đến 90%, tuy nhiên vài năm gần đây, kỹ thuật cao phát triển, tỉ lệ tử vong giảm xuống còn khoảng 30%.

Viêm cơ tim có nhiều không? Không, để gây biến chứng tổn thương cơ tim khá hiếm gặp. Nhiều năm nay, mỗi năm chúng tôi gặp một số ca rải rác khắp các tỉnh thành, chẳng tập trung vào đâu cả. Thông thường nhiều lên một chút ở các vụ dịch (năm 2017 dịch sốt xuất huyết có vài ca tử vong nghi ngờ do viêm cơ tim) sau đó lại như mọi năm.

Mấy ngày nay có bệnh nhân viêm cơ tim tăng lên không? Còn ít hơn các mùa khác. Các mẹ đừng có rộ lên chia sẻ rồi đi tìm đọc mấy tài liệu lá cải, rồi khuyến cáo nhau như các nhà khoa học chân chính. Sợ quá, hoang hết cả mang.”

Theo bác sĩ Hùng Ngô, bệnh viêm cơ tim tuy nặng nhưng khá hiếm gặp. Bệnh này có nhiều năm nay, năm nào cũng lẻ tẻ vài ca. Trước đây tỉ lệ chết lên đến 90%, tuy nhiên vài năm gần đây, kỹ thuật cao phát triển, tỷ lệ tử vong giảm xuống còn khoảng 30%.

Bác sĩ Ngô Đức Hùng khuyến cáo: “Các mẹ ạ, khi có bệnh, các mẹ đừng tham khảo ‘người ta’, đừng ‘nghe nói’ hay ‘Google’ “đại pháp”. Mà hãy đi khám bác sĩ, đừng lên mạng hỏi bệnh này bệnh gì, đừng inbox bác sĩ hỏi anh ơi chữa thế nào. Hãy… ‘vác xác’ đến viện. Viêm cơ tim đúng là nặng, nhưng khá hiếm gặp.

Một mẹ đăng chuyện người nhà xấu số, mẹ khác nhảy vào bảo, ôi hàng xóm nhà em cũng triệu chứng giống thế. Rồi anh khác chia sẻ mấy năm trước người quen em cũng giống thế. Hóa ra, tất cả ca tử vong thời gian gần đây theo các anh chị ấy đều… giống hệt nhau.

Đời tôi làm bác sĩ 20 năm mà gặp viêm cơ tim đếm trên đầu ngón tay. Thôi chia buồn với ai chẳng may mắc phải. Còn để nó lây cho người khác thì chả có bằng chứng gì, phát biểu quy chụp cảm tính vớ vẩn như vậy bảo dân trí thấp. Lại tự ái. Nếu nó lây dễ thế nhẽ rằng viện Bạch Mai, trường Y nhân viên chắc chết chả còn một mống.

Cuối cùng vị bác sĩ hóm hỉnh cho biết, anh gọi mấy thứ này là bệnh dịch mạng xã hội, “dịch từ mồm mà ra”: “Tôi gọi mấy thứ này là bệnh dịch mạng xã hội. Dịch từ mồm các mẹ mà ra”

Đừng để trầm cảm “đánh cắp” cuộc sống của bạn!

Sức Khỏe

Sulli, nữ idol người Hàn Quốc đã chọn cách kết thúc cuộc đời sau nhiều năm chống chọi với căn bệnh trầm cảm. Khoảng thời gian cô quay trở lại sau thời gian điều trị, vẻ ngoài rạng rỡ khi xuất hiện trước công chúng khiến người ta nghĩ rằng cô đã ổn. Nhưng không, và chắc hẳn chính cô cũng ý thức được điều đó. 

Giống như một con sâu đục thân, người mắc bệnh trầm cảm không biểu hiện bất kỳ dấu hiệu nào về việc mình đang mang theo căn bệnh nguy hiểm ấy. Hay như Sulli, chỉ đến khi thông tin về cái chết của cô qua đời, tất cả những điều cô từng chia sẻ về căn bệnh của mình mới được đào xới và quan tâm, dẫu đã quá muộn.

Chúng ta cần biết điều gì để ngăn chặn căn bệnh đang phá hủy cuộc sống của những người chúng ta thương yêu?

phu-nu-tram-cam-3

1.Trầm cảm gây đau đớn

Buồn phiền chỉ là một trong rất nhiều triệu chứng của trầm cảm. Trên thực tế, không ít người bị trầm cảm lại không hề có cảm giác buồn bã. Những người bị trầm cảm dễ gặp các triệu chứng như đau nhức toàn thân, đau đầu, chuột rút hay các vấn đề về tiêu hóa và cản trở nhiều hoạt động trong cuộc sống. Nếu bạn gặp phải một trong những triệu chứng dưới đây trong khoảng thời gian từ 2 tuần trở lên, hãy cân nhắc khả năng bạn đã bị trầm cảm:
– Thường xuyên cảm thấy buồn bã, lo lắng, trống rỗng
– Cảm giác tuyệt vọng hoặc bi quan
– Cáu gắt
– Cảm giác tội lỗi, vô dụng hoặc bất lực
– Mệt mỏi hoặc suy giảm năng lượng
– Khó ngủ, thường xuyên tỉnh giấc giữa đêm
– Mất hứng thú với các hoạt động trong cuộc sống
– Cảm giác bồn chồn, không yên
– Khó tập trung, ghi nhớ hoặc ra quyết định
– Di chuyển hoặc nói chuyện chậm hơn
– Mất cảm giác thèm ăn, thay đổi cân nặng đột ngột
– Đau nhức toàn thân, chuột rút, gặp vấn đề về tiêu hóa mà không có nguyên nhân rõ ràng
– Xuất hiện những suy nghĩ về cái chết

Hãy nói chuyện với bác sĩ về những triệu chứng này. Bác sĩ cần biết về thời điểm bắt đầu của triệu chứng, khoảng thời gian xảy ra trong ngày, tần suất xuất hiện và mức độ ảnh hưởng của nó đến các hoạt động thể chất và cuộc sống của người bệnh.

2. Các giai đoạn dễ xảy ra trầm cảm ở phụ nữ

– Tiền kinh nguyệt

Phần lớn phụ nữ đều biết về hội chứng tiền kinh nguyệt (Premenstrual Syndrome – PMS) với các rối loạn thể nhẹ như tâm trạng thất thường, đầy hơi, mệt mỏi, táo bón diễn ra trong một thời gian ngắn, khoảng 5-7 ngày trước kì kinh. Nguyên nhân chủ yếu do việc mất cân bằng hoóc-môn trong cơ thể trước ngày “đèn đỏ”.

Tuy nhiên, có một dạng rối loạn tâm thần tiền kinh nguyệt (PMDD) ít gặp hơn, nhưng lại nghiêm trọng và kéo dài hơn. Sự mất cân bằng nội tiết tố, đặc biệt là thiếu hụt hoóc-môn serotonin được xem là nguyên nhân chính dẫn đến các triệu chứng rối loạn này. Có khoảng 3-8% phụ nữ nhận thấy các dấu hiệu khó chịu gấp bội trước kì kinh như: cảm giác tuyệt vọng, có ý nghĩ về cái chết, luôn căng thẳng, hoảng sợ, không tập trung, không quan tâm đến sinh hoạt hàng ngày, mất ngủ, biếng ăn, đau nhức xương cơ.

phu-nu-tram-cam-4

– Sau sinh

Phụ nữ mới sinh thường phải đối diện với các rối loạn tâm thần từ khoảng 1 đến 4 tuần sau kỳ sinh nở. “Baby blues” là thuật ngữ miêu tả tâm trạng buồn bã, mệt mỏi, lo lắng, dễ cáu gắt xuất hiện ở thời điểm 3-4 ngày sau sinh. Hội chứng này liên quan đến lượng hoóc-môn suy giảm đột ngột và cơ thể bắt đầu cơ chế sản xuất sữa. Hội chứng “baby blues” không phải là bệnh, không cần điều trị, người mẹ chỉ cần được nghỉ ngơi, nhận được sự hỗ trợ của gia đình và bạn bè là đủ.

Tuy nhiên, trầm cảm sau sinh lại là rối loạn tâm thần nghiêm trọng hơn và thường liên quan đến yếu tố di truyền (tiền sử bị trầm cảm hoặc trong gia đình có người bị trầm cảm). Giống hội chứng “baby blues”, nhưng triệu chứng của trầm cảm sau sinh nghiêm trọng hơn: tâm trạng chán nản, bất lực, hay nghĩ về cái chết, có suy nghĩ làm tổn thương mình hoặc người khác, cảm thấy không có mối gắn kết nào với con. Phụ nữ bị trầm cảm sau sinh cần được hỗ trợ, điều trị và giám sát liên tục.

– Tiền mãn kinh

Khi phụ nữ bước vào độ tuổi 40-45, chu kì kinh nguyệt bắt đầu thưa dần và không đều, đó là những dấu hiệu đầu tiên của giai đoạn tiền mãn kinh. Trong giai đoạn này, nhiều người nhận thấy các triệu chứng rối loạn cả tâm thần và thể chất như: mệt mỏi, uể oải, nóng trong người, mất ngủ, buồn bực, chán nản, giảm ham muốn tình dục… Các triệu chứng này thường kéo dài ít nhất 2 tuần.

3. Trầm cảm có thể chữa trị

Với mỗi người, mức độ trầm cảm và triệu chứng là hoàn toàn khác nhau, chính vì vậy sẽ không thể có một phác đồ điều trị cho tất cả. Đôi khi các bệnh nhân trầm cảm phải trải qua một vài bước điều trị thử nghiệm để tìm được phương pháp phù hợp với mình. Điều này đòi hỏi sự kiên nhẫn, vì có nhiều loại thuốc cần đến 8 tuần hoặc lâu hơn để có hiệu lực đầy đủ với cơ thể.

Đừng bỏ cuộc cho đến khi tìm được phương pháp phù hợp, bởi việc dừng đột ngột có thể khiến các triệu chứng trầm cảm nặng hơn. Việc điều trị cần phải kéo dài trong nhiều tháng sau đó ngay cả khi người bệnh đã cảm thấy hoàn toàn khỏe mạnh. Thời gian ít nhất cho mỗi đợt điều trị bệnh là 6 tháng.

phu-nu-tram-cam-2

– Theo Tổ chức Y tế thế giới WHO, bệnh trầm cảm mỗi năm cướp đi sinh mạng của 850.000 người, và chỉ có 25% số người bị trầm cảm được điều trị đúng và kịp thời.

– Dự đoán đến năm 2020, trầm cảm sẽ là căn bệnh có nguy cơ cao thứ hai trong số những bệnh phổ biến toàn cầu, với 121 triệu bệnh nhân.

Bệnh trầm cảm – mối lo ngại sức khỏe không của riêng ai

Sức Khỏe

Trầm cảm là đang “vấn nạn” lớn trong xã hội hiện đại và đe dọa sức khỏe của con người trên toàn cầu. Căn bệnh trầm cảm gây ra tổn thất nghiêm trọng về con người cũng như làm thất thoát hàng tỉ USD đối với nền kinh tế thế giới. 

Có khoảng 350 triệu người ở mọi lứa tuổi, từ tất cả các tầng lớp xã hội đang mắc phải căn bệnh trầm cảm trên toàn thế giới. Nguy hại hơn, trầm cảm đôi khi có thể dẫn đến tự sát, đây là nguyên nhân thứ hai gây tử vong ở độ tuổi từ 15-29 tuổi.

Hiện nay trên toàn cầu có khoảng 350 triệu người ở mọi lứa tuổi, từ tất cả các tầng lớp xã hội đang mắc phải căn bệnh trầm cảm. Nó gây ra sự đau đớn tinh thần và ảnh hưởng đến khả năng sinh hoạt, ngay cả những công việc hàng ngày đơn giản nhất; hậu quả của trầm cảm còn gây ảnh hưởng đến các mối quan hệ như gia đình, bè bạn và khả năng sinh tồn của họ. Nguy hiểm hơn nữa, trầm cảm đôi khi có thể dẫn đến tự sát, đây là nguyên nhân thứ hai gây tử vong ở độ tuổi từ 15-29 tuổi. Vì những nguyên nhân đó, trầm cảm ảnh hưởng đến mọi người ở mọi lứa tuổi và cuộc sống con người ở tất cả các nước.

Tổ chức Y tế Thế giới đặc biệt chú ý đến ba nhóm: vị thành niên và thanh niên, phụ nữ trong độ tuổi sinh sản (đặc biệt là sau khi sinh con) và người cao tuổi (trên 60 tuổi).

betterliving

1. Những điều cần biết để phòng chống trầm cảm

– Những người hướng nội dễ bị trầm cảm hơn

Một số nghiên cứu chỉ ra rằng những người sống hướng nội có nguy cơ bị trầm cảm và các triệu chứng của bệnh cao hơn so với người khác. Các đặc điểm khác của người hướng nội như sợ hãi hoặc thay đổi tâm trạng có thể dẫn dến trầm cảm nếu cảm xúc tiêu cực kéo dài. Cô đơn và nghiện facebook cũng có thể là triệu chứng của trầm cảm.

continental-hospitals

– Kích thước não bộ có thể dự đoán nguy cơ trầm cảm

Những người bị trầm cảm hoặc rối loạn lo âu thường có chất xám trong não ít hơn, đặc biệt là ở vùng chịu trách nhiệm nhiều chức năng như huyết áp, nhịp tim, chức năng nhận thức, khả năng ra quyết định và cảm nhận. Điều này dẫn đến các rối loạn về xử lý cảm xúc và từ đó gây ra các triệu chứng trầm cảm.

blogtamly

– Quan tâm đến giấc ngủ

Thực tế là giấc ngủ và sức khỏe tinh thần có liên quan chặt chẽ với nhau. Nhiều nghiên cứu cho thấy nếu không ngủ đủ giấc, bạn sẽ có nguy cơ bị trầm cảm cao hơn. Ngoài ra, những người bị rối loạn trầm cảm nặng có nguy cơ gặp rắc rối về giấc ngủ ban đêm và điều này làm trầm trọng thêm các triệu chứng.

Picture of depressed woman sleeping all day

2. Những giải pháp đơn giản ngăn ngừa bệnh trầm cảm

– Vận động thường xuyên

Ít vận động khiến não bộ trở nên xơ cứng và ngày càng nhận được ít yếu tố kích thích, vì thế stress và tâm trạng bất an sẽ tích tụ và biến thành các triệu chứng trầm cảm. Những người theo giáo phái Amis ở Mỹ gần như không có ai bị trầm cảm đã chứng minh rằng lao động cơ bắp có lợi thế nào. Cộng đồng dân cư ở Pensylvania này không chấp nhận cuộc sống hiện đại, họ duy trì cuộc sống như thời ông bà, tổ tiên, chủ yếu tồn tại dựa vào canh tác nông nghiệp lạc hậu và chỉ tạo ra những công cụ cần thiết cho nhu cầu.

khoahoc

– Thay vì dùng thuốc, hãy đi du lịch

Theo một số nhà khoa học, trầm cảm là hiện tượng tương ứng với phản xạ ngủ đông của con người, là dạng phản ứng mang tính bản năng của động vật có vú. Vì thế không có gì ngạc nhiên khi nạn nhân trầm cảm trở nên chậm chạp và buồn bã. Vậy nên, không cần đợi đến khi cơ thể có những dấu hiệu trầm cảm, bạn nên dành một vài thời điểm trong năm để tổ chức chương trình nghỉ ngơi dài ngày.

the-huffington-post

– Nhiệt độ lạnh cải thiện sức khỏe

Tận dụng nhiệt độ thấp để chữa bệnh không phải phát minh mới, tuy nhiên thời gian gần đây phương pháp này mới được áp dụng phổ biến giúp bệnh nhân lấy lại tâm trạng vui vẻ. Người bệnh bước vào phòng kín có nhiệt độ cực thấp (từ -110 độ C đến -160 độ C) trong thời gian 2-3 phút. Sau ca điều trị như vậy, họ thường cảm thấy tinh thần thư thái, thoải mái, và phong độ tinh thần này sẽ được duy trì lâu dài. Người Mỹ và người Nhật đã áp dụng nhiệt độ thấp để điều trị trầm cảm trên phạm vi rộng. Tuy vậy, liệu pháp nhiệt độ thấp không thể là phương thuốc chính chữa trị căn bệnh rối loạn này. Trong điều kiện gia đình, tắm nước lạnh bằng vòi hoa sen có thể coi là giải pháp thay thế hữu hiệu.

cleanandtoasty

– Dạo bộ ngoài trời

Thông thường, chúng ta muốn đi ngủ nhiều hơn vào mùa thu và mùa đông, đôi khi chán ăn hoặc ăn uống nhiều hơn. Thủ phạm gây ra tình trạng bất thường đó là sự thiếu hụt ánh nắng. Theo khuyến cáo của Bộ Y tế Vương quốc Anh, chỉ cần một cuộc dạo bộ ngắn ngoài trời mỗi ngày cũng phát huy tác dụng cải thiện trạng thái tình cảm.

easy-health-options

– Luyện tập thể chất

Luyện tập thể thao thường xuyên kích thích cơ thể gia tăng sản xuất endorfin – hoocmone tạo cảm giác hạnh phúc. Tuy nhiên, nếu đã nhiều ngày mệt mỏi, buồn rầu và chán nản, bạn cần cân nhắc và thấu hiểu khi khuyên họ tham gia các hoạt động tạo sự kích thích này. Không nên biến việc rèn luyện thể chất trở thành nghĩa vụ bắt buộc hay gánh nặng tinh thần, nhưng việc tạo ra thói quen tập luyện hàng ngày thường phát huy hiệu quả điều trị bệnh rõ rệt. Hiểu biết và phòng ngừa trầm cảm sẽ giúp giảm sự kỳ thị liên quan đến tình trạng này và tạo cơ hội để nhiều người mắc bệnh tìm kiếm sự giúp đỡ.

hellobacsi