Phát hiện mới về nguyên nhân khiến trẻ sơ sinh ngủ kém

ĐẸP KIDS

Khoảng 60% các bà mẹ trong một nhóm theo dõi gồm 1.460 phụ nữ mang thai ở tuần thứ 15 thừa nhận em bé thường có vấn đề nhẹ hoặc thất thường về giấc ngủ trong năm đầu đời.

Một nghiên cứu mới của Australia đã phát hiện ra rằng các vấn đề nghiêm trọng về giấc ngủ mà trẻ sơ sinh gặp phải có thể là kết quả từ tình trạng sức khỏe của người mẹ trong thời gian mang thai.

Sau khi theo dõi 1.460 phụ nữ mang thai ở tuần thứ 15, các chuyên gia tại Viện Nghiên cứu về trẻ em Murdoch cho biết khoảng 60% các bà mẹ trong nhóm thừa nhận em bé thường có vấn đề nhẹ hoặc thất thường về giấc ngủ trong năm đầu đời.

Tuy nhiên, với khoảng 20% phụ huynh, vấn đề này trở nên dai dẳng hơn.

Trưởng nhóm nghiên cứu, tiến sỹ Fallon Cook nhận định những bà mẹ này thường có sức khỏe tinh thần hoặc và thể chất kém trong thời gian mang thai hơn so với những bà mẹ có con không gặp vấn đề nào về giấc ngủ.

Mặc dù vẫn chưa làm rõ được mối liên hệ, song tiến sỹ Cook nhận định điều quan trọng là các thai phụ nhận được sự hỗ trợ cần thiết khi mang thai.

Theo bà, việc xác định và hỗ trợ các bà mẹ có sức khỏe và tinh thần kém khi mang thai là vô cùng quan trọng, bởi việc chăm sóc trẻ sơ sinh không ngủ tốt là vô cùng vất vả.

Các phụ huynh cần tìm kiếm sự trợ giúp từ các bác sỹ hoặc y tá nếu cảm thấy chán nản, lo lắng và kiệt sức, cũng như tìm đến gia đình, bạn bè và các nhóm phụ huynh để được hỗ trợ.

Mẹ của những em bé sơ sinh gặp vấn đề về giấc ngủ có thể thường xuyên cảm thấy những gì họ làm là nguyên do khiến trẻ như vậy.

Tuy nhiên, tiến sỹ Cook đã trấn an các bậc phụ huynh rằng nghiên cứu cho thấy cách họ chăm sóc con không phải là nguyên nhân khiến bé ngủ kém.

Bài: Đặng Ánh (VietnamPlus)

04/10/2019, 14:56

Dior chọn đa sắc tộc làm nền tảng cho chiến dịch quảng cáo BST Cruise 2020

ĐẸP KIDS

Các thiết kế tiêu biểu nhất trong BST Cruise 2020 được sáng tạo bởi NTK Maria Grazia Chiuri tỏa sáng dưới ống kính của nữ nhiếp ảnh gia Brigitte Niedermair – đồng thời đảm nhiệm vai trò chỉ đạo nghệ thuật cho chiến dịch quảng cáo mùa này.

BST Cruise 2020 với tên gọi “Common Ground” (nền tảng chung – mượn ý của nữ triết gia Naomi Zack) đã gây ấn tượng sâu sắc với mọi người khi ra mắt hồi tháng 5 tại Marrakesh ở Ma-rốc. Các thiết kế tôn vinh sự đa dạng và những kỹ nghệ nhà nghề lừng lẫy. Với nguồn cảm hứng đa chiều, NTK Maria Grazia Chiuri “hút hồn” khách mời với những bộ trang phục thể hiện sự điêu luyện của những người thợ thủ công, đồng thời khẳng định vai trò của thời trang là một mạng lưới độc đáo, mang đến tầm nhìn mới mẻ.

Chiến dịch quảng cáo BST Cruise 2020 của Dior đã được ra mắt công chúng mộ điệu.

Dàn mẫu được lựa chọn cho chiến dịch quảng cáo BST Cruise 2020 gồm có gương mặt quen thuộc Ruth Bell cùng Adesuwa Aighewi và Ana Barbosa – đại diện cho những màu da khác nhau trên thế giới. Nhiếp ảnh gia Brigitte Niedermair ghi lại những khoảnh khắc xuất thần của những người mẫu trong những sáng tạo mới của nhà Dior với sức hút khó cưỡng lại.

Những gương mặt chính trong chiến dịch quảng cáo BST Cruise 2020 của Dior.
Túi 30 Montaigne, túi Saddle và thắt lưng logo CD là những phụ kiện chiếm “spotlight” trong chiến dịch quảng cáo lần này của Dior.

40 điều khác nhau giữa đàn ông thông minh và đàn ông ngốc, phụ nữ cần biết để không “bị lừa”

ĐẸP KIDS

Thấy một cô gái đẹp đi ngang, đàn ông ngốc nhìn và khen đẹp. Đàn ông thông minh cũng nhìn và không nói gì. Nếu vợ hỏi thì bảo: “Cô ta xấu”. Đàn ông ngốc hứa yêu bạn suốt đời, đàn ông thông minh hứa lo cho bạn cả đời.

Quen và kết hôn với một người đàn ông thông minh là mơ ước của mọi cô gái. Thế nhưng rất nhiều cô đã “bị lừa”, sống chung rồi mới phát hiện ra chàng ta ngốc. Để giúp các thiếu nữ đề phòng “thảm họa” này, đạo diễn Lê Hoàng đã thống kê ra 40 đặc điểm nhận diện đàn ông thông minh và đàn ông ngốc.

Đàn ông ngốc hứa yêu bạn suốt đời, đàn ông thông minh hứa lo cho bạn cả đời

1. Đàn ông thông minh thường không chọn phụ nữ thông minh. Vì vậy nếu bạn có bằng cấp cao, bạn phải đề phòng những anh chàng tới chỗ mình.
2. Đàn ông ngốc hay khen bạn đẹp. Đàn ông thông minh hay khen bạn đáng yêu.
3. Đàn ông ngốc dẫn bạn gái về thăm cha mẹ. Đàn ông thông minh dẫn đi chơi.
4. Đi ăn tiệm, đàn ông ngốc hỏi bạn: “Có ngon miệng không?”. Đàn ông thông minh hỏi bạn: “Có vui không?”.
5. Đàn ông ngốc hay kể về thời đi học. Đàn ông thông minh hay kể về những thời bỏ học.
6. Đàn ông ngốc hay khoe những thứ sắp mua. Đàn ông thông minh hay khoe những thứ không mua.
7. Đàn ông ngốc hay hỏi bạn đi với ai. Đàn ông thông minh chỉ hỏi bạn đi đâu.
8. Đàn ông ngốc hứa yêu bạn suốt đời. Đàn ông thông minh hứa lo cho bạn cả đời.
9. Đàn ông ngốc cái gì cũng biết. Đàn ông thông minh chỉ biết những thứ không liên quan tới mình.
10. Đàn ông ngốc hay nhớ. Đàn ông thông minh hay quên.

11. Xem thi hoa hậu, đàn ông ngốc xem tới cùng. Đàn ông thông minh xem xong phần áo tắm là thôi.
12. Đàn ông ngốc ăn nhiều. Đàn ông thông minh ăn ít. Đàn ông cực kỳ thông minh chả biết mình ăn gì.
13. Đàn ông ngốc thích nhìn bạn làm. Đàn ông thông minh thích nhìn bạn chơi.
14. Đàn ông ngốc dẫn bạn vào hiệu sách. Đàn ông thông minh dẫn bạn vào rừng.
15. Đàn ông ngốc thích phim tình cảm. Đàn ông thông minh thích phim hình sự.
16. Đàn ông ngốc treo bằng cấp trên tường. Đàn ông thông minh để nó dưới gầm giường.
17. Khi bạn ra khỏi nhà, đàn ông ngốc hỏi: “Bao giờ về?”. Đàn ông thông minh hỏi: “Bao giờ em đi nữa?”.
18. Khi bạn có áo mới, đàn ông ngốc hỏi: “Mua bao nhiêu tiền?”. Còn đàn ông thông minh hỏi: “Chọn trong bao nhiêu giờ?”.
19. Thấy một cô gái đẹp đi ngang, đàn ông ngốc nhìn và khen đẹp. Đàn ông thông minh cũng nhìn và không nói gì. Nếu vợ hỏi thì bảo: “Cô ta xấu”.
20. Đàn ông ngốc hay khoe cha mẹ hiền. Đàn ông thông minh khoe cha mẹ cho mình tự do.

Khi bạn ra khỏi nhà, đàn ông ngốc hỏi: “Bao giờ về?”, đàn ông thông minh hỏi: “Bao giờ em đi nữa?”

21. Đàn ông ngốc hay ăn mặc đẹp. Đàn ông thông minh hay ăn mặc kỳ quái.
22. Đàn ông ngốc hay bán hớ. Đàn ông thông minh hay mua hớ.
23. Đàn ông ngốc tắm nhiều. Đàn ông thông minh gội đầu nhiều.
24. Đàn ông ngốc đến nhanh. Đàn ông thông minh về nhanh.
25. Đàn ông ngốc đọc những gì báo đăng. Đàn ông thông minh đọc những gì báo không đăng.
26. Đàn ông ngốc lái xe hơi. Đàn ông thông minh thuê tài xế.
27. Đàn ông ngốc hay béo. Đàn ông thông minh hay gầy.
28. Đàn ông ngốc hay tập thể thao. Đàn ông thông minh hay cười chuyện đó.
29. Sau khi ly dị, đàn ông ngốc nói xấu vợ. Đàn ông thông minh nói xấu mình.
30. Về nhà vợ, đàn ông ngốc tỏ ra sắc sảo. Đàn ông thông minh tỏ ra hiền lành.

31. Đàn ông ngốc hay uống rượu. Đàn ông thông minh hay ăn kem.
32. Đàn ông ngốc hay nghe nhạc một mình. Đàn ông thông minh chỉ nghe nhạc khi có cô gái ngồi bên cạnh.
33. Đàn ông ngốc sợ vợ đẹp. Đàn ông thông minh sợ vợ ngoan.
34. Đàn ông ngốc nhiều người yêu. Đàn ông thông minh nhiều người ghét.
35. Đàn ông ngốc sợ cô đơn. Đàn ông thông minh sợ chỗ đông người.
36. Đàn ông ngốc hay ăn con gì mình nuôi. Đàn ông thông minh ăn con gì đứa khác nuôi.
37. Đàn ông ngốc gọi vợ là “bà xã”. Đàn ông thông minh gọi là “em”.
38. Đàn ông ngốc yêu nhiều. Đàn ông thông minh ly dị nhiều.
39. Đàn ông ngốc sợ mình già. Đàn ông thông minh sợ đứa khác già.
40. Đàn ông ngốc luôn tỏ ra thông minh. Đàn ông thông minh luôn tỏ ra ngốc.

Đàn ông ngốc sợ vợ đẹp, đàn ông thông minh sợ vợ ngoan

Ô nhiễm bụi mịn – những điều cần biết

ĐẸP KIDS

Trong thời gian gần đây, nồng độ bụi mịn tăng cao đột biến, chỉ số chất lượng không khí ở mức kém và có hại cho sức khỏe tại nhiều trạm quan trắc không khí ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh.

Các chuyên gia lưu ý, khẩu trang thông thường như khẩu trang vải, khẩu trang y tế không thể lọc được bụi mịn mà chỉ hạn chế 30%-40% lượng bụi.

Để ngăn được bụi mịn, cần sử dụng khẩu trang chuyên dụng như N95 hoặc N99.

Trường hợp chỉ có khẩu trang y tế, người dân cần lồng hai chiếc vào nhau hoặc lót kèm khăn giấy bên trong để ngăn bụi.

Khi về nhà, cũng nên rửa mặt, rửa mũi để giảm thời gian hạt bụi tiếp xúc trên đường hô hấp và trên da. Đồng thời, người dân nhớ nhỏ mắt, mũi bằng nước muối sinh lý, hạn chế phơi thực phẩm, áo quần, hạn chế sử dụng nước mưa.

Toàn cảnh làng văn nghệ thế giới bước vào mùa thu: đẹp và dễ chịu!

ĐẸP KIDS

Bước vào mùa thu, mùa đẹp và buồn nhất trong năm, dường như làng văn nghệ thế giới cũng đẹp và dễ chịu hơn rất nhiều, ở cả mảng điện ảnh hay âm nhạc, với những tác phẩm không chỉ để xem đó rồi thôi mà thực sự cuốn người ta vào một thế giới và bầu trời của riêng nó.

Một cảnh trong phim “Trời sáng rồi ta ngủ đi thôi”

Điện ảnh mùa thu: Chiêm nghiệm và tham vọng

Nếu như mùa hè là mùa của bom tấn điện ảnh thì mùa thu là mùa của những giải thưởng lớn, cũng là thời điểm các nhà làm phim phát hành những tác phẩm tham vọng nhất. Vài năm trở lại đây, những phim được ghi nhận tại Venice – liên hoan phim quan trọng nhất mùa thu – đều có một mùa giải thành công tại Oscar, điển hình là “The shape of water” hay “Roma”. Năm nay có lẽ cũng không là ngoại lệ khi chủ nhân giải Sư Tử Vàng là bộ phim “Joker” của đạo diễn Todd Phillips. “Joker” là câu chuyện tiểu sử về nhân vật gã hề điên loạn của thành phố Gotham, nhân vật đã trở thành kinh điển ngay từ khi y xuất hiện lần đầu trong tập truyện tranh “Batman” của DC Comics và sát hại nạn nhân bằng thứ nọc độc khiến gương mặt họ nở nụ cười quái đản.

Thành công của “Joker” giúp DC Comics lấy lại phong độ trên màn ảnh

Không riêng “Joker”, các tác phẩm tranh giải tại Venice 2019 cũng đánh dấu một năm điện ảnh khởi sắc sau năm 2018 tẻ nhạt, với sự trở lại của một loạt đạo diễn như Roman Polanski, Hirokazu Koreeda, Roy Andersson, Lâu Diệp, Steven Soderbergh. Với riêng James Gray, sau “The lost city of Z”, ông vẫn tiếp tục đề tài về những người đàn ông trong chuyến du hành của mình đến những miền đất thăm thẳm, nơi bản ngã đối diện với hư không, với “Ad Astra” – một tác phẩm dù không phải đỉnh cao trong thể loại của nó (làm sao có thể vượt qua những đỉnh núi như “Solaris” của Andrei Tarkovsky hay “2001: A space odyssey” của Stanley Kubrick), song vẫn là một tác phẩm tuyệt đẹp và buồn nao lòng về con người lửng lơ trong những tầng trời vũ trụ.

Brad Pitt có một năm 2019 đầy thành công sau giai đoạn chững lại trong sự nghiệp

Brad Pitt, người thủ vai chính trong “Ad Astra”, chỉ trong một khoảng thời gian ngắn, anh trình diện hai nhân vật hoàn toàn khác biệt: một Cliff Booth thật tự tại, thật ngầu trong “Once upon a time… in Hollywood” và giờ là phi hành gia Roy McBride với đôi mắt buồn quạnh quẽ. Với cả hai bộ phim, anh đều diễn không hề khoa trương, không hề cố định nhân vật bằng những “đòn” diễn uy lực, gây rúng động xúc cảm ngay tức khắc đối với người xem. Ngược lại, anh mở ra một chân trời cho nhân vật, diễn theo cách đầy sức gợi, cho người ta tiếp tục liên tưởng và nghĩ suy về vai diễn.

Nền điện ảnh Trung Quốc mùa thu này cũng thành công ngoài sức tưởng tượng với “Na Tra: Ma đồng giáng thế”, khi trở thành bộ phim hoạt hình không phải do Mỹ sản xuất có doanh thu cao nhất trên thế giới. Dù còn nhiều tranh cãi về chất lượng, không thể phủ nhận câu chuyện về cậu bé Na Tra huyền thoại đã đặt một dấu mốc cho sự phát triển thể loại phim hoạt hình Trung Quốc, chắc hẳn nó sẽ còn thăng hoa trong nhiều năm tới.

“Trời sáng rồi ta ngủ đi thôi” có nước phim mơ màng, những khung hình Sài Gòn thi vị và những bản nhạc indie tĩnh lặng, man mác

Tất nhiên, không nhất thiết phải tạo nên những tác phẩm hoành tráng, cầu kỳ, những tác phẩm hướng tới giải thưởng danh giá mới là tham vọng. Có những tham vọng bé nhỏ hơn, chẳng hạn như những nhà làm phim độc lập Việt Nam lặng lẽ làm ra những tác phẩm bình dị, đơn thuần, mô tả thế giới như nó vẫn là, tỉ mỉ mà không hề sặc sỡ. “Trời sáng rồi ta ngủ đi thôi” có nước phim mơ màng, những khung hình Sài Gòn thi vị và những bản nhạc indie tĩnh lặng, man mác. Những thước phim ấy không hề có tham vọng trở thành một cú hit, một tác phẩm đình đám, nó chỉ tồn tại trong dòng chảy của riêng mình. Và bất chấp những khó khăn của việc làm phim độc lập ở Việt Nam, các nhà làm phim trẻ vẫn miệt mài lao động, để khán giả không bao giờ quên rằng điện ảnh không phải lúc nào cũng là một đại tiệc hoành tráng và mãn nhãn, có khi nó chỉ là cuộc đời, yên lành và trong trẻo.

Âm nhạc mùa thu: Hoài niệm và ngọt ngào

Taylor Swift tái tạo chính mình bằng năng lượng tình yêu mới.

Mùa thu bắt đầu với sự ra đời của “Lover” về một Taylor Swift chan chứa yêu đương, đó như dấu hiệu tốt lành cho một mùa âm nhạc có sự trở lại của những ngôi sao ta yêu mến.

“Wake me up when September ends”, hãy đánh thức tôi khi tháng 9 tàn, đó là tên “thánh ca” mùa thu mà ban nhạc Green Day đã sáng tác. Thế mà khi tháng 9 còn chưa kịp qua đi, thì Green Day sau nhiều năm không phát hành sản phẩm mới đã bất ngờ trở lại với ca khúc “Father of all motherfuckers” với đầy đủ phẩm chất của những bản nhạc punk rock từng đưa họ tới đỉnh cao trong “American idiot” hay “Dookie”, và chưa hết, họ còn hứa hẹn về một album mới vào đầu năm 2020.

Green Day bất ngờ trở lại với ca khúc “Father of all motherfuckers”

Và cả nàng thơ một thời của nỗi sầu mùa hè, Lana Del Rey cũng xuất hiện trở lại vào mùa thu, với album “Norman fucking rockwell!” đan xen những bản tình ca thê thiết như cô vẫn thường vậy, những tuyên ngôn về chính trị không lên gân, không ồn ào nhưng đầy suy nghiệm, những giấc mơ chua chát của nước Mỹ hào hoa mà phản địa đàng. “Norman fucking rockwell!” thực sự là một sản phẩm đỉnh cao của Lana Del Rey, hay nói như nhà báo Jean Pelly trên Pitchfork (dù sự tâng bốc có thể hơi quá), nó “xác lập Del Rey như một trong những nhạc sĩ vĩ đại nhất còn đang sống của nước Mỹ”.

“Norman fucking rockwell!” thực sự là một sản phẩm đỉnh cao của Lana Del Rey.

Với người hâm mộ nhạc Việt, mùa thu cũng sẽ dịu dàng với phiên bản mới của “Tám chữ có”, ca khúc được Lê Cát Trọng Lý mang tới tận châu Phi để quay MV trên những đồng cỏ xavan hay dưới những cây bao báp khổng lồ, còn Hà Anh Tuấn sẽ mang những bản tình ca trong liveshow “Truyện ngắn” từ Hội An ra Sài Gòn và Hà Nội.

Hà Anh Tuấn miệt mài với những show diễn.

Truyền hình mùa thu: Vương vấn và tri ân

Không hẹn mà gặp, cả trên thế giới và ở Việt Nam, mùa thu năm nay đều nhuốm một màu vương vấn khi khán giả phải nói lời chia tay với những tác phẩm họ yêu mến.

Sau hơn 80 tập phim “Về nhà đi con”, khán giả màn ảnh nhỏ Việt Nam vẫn có thể gặp lại những câu chuyện gia đình với motif quen thuộc trong “Hoa hồng trên ngực trái”, từ cuộc sống cay đắng của những nhân vật nữ, sự nhu nhược của những nhân vật nam, chuyện tình tay ba lằng nhằng phức tạp kéo dài từ tập này sang tập khác. Có lẽ, người ta vẫn chưa sẵn sàng để quên “Về nhà đi con”, và việc VTV trình chiếu một bộ phim với nội dung mang nhiều điểm tương đồng giống như một cách níu kéo những cảm xúc còn sót lại từ bộ phim trước đó.

“Hoa hồng trên ngực trái” truyền đi thông điệp nữ quyền: phụ nữ hoàn toàn có thể đứng dậy sau đổ vỡ hôn nhân.

Truyền hình miền Nam cũng háo hức với “Tiếng sét trong mưa”, một dự án có kinh phí lên tới 10 tỷ đồng, quay trong 2 năm, dựng lại một vở cải lương kinh điển từng làm rúng động xã hội Trung Quốc những năm đầu thế kỷ 20 do kịch tác gia Tào Ngu sáng tác, vở “Lôi Vũ”. “Lôi Vũ” là một tấn kịch gia đình tréo ngoe, một tác phẩm dữ dội về báo ứng, nhân quả, tình yêu, tội ác. Ở đó, tất cả các nhân vật cuối cùng đều chỉ là tốt thí trên bàn cờ số phận. Một cốt truyện tầng tầng lớp lớp và đầy chất liệu để chuyển thể thành phim nhiều tập. Và với những chia sẻ về quá trình làm phim đầy kỳ công, “Tiếng sét trong mưa” có thể ít nhiều tạo nên một dấu mốc mới cho truyền hình miền Nam.

“Chernobyl” làm về thảm họa hạt nhân và cũng là thảm họa nhân tính của thế kỷ 20.

Trong khi ấy, ở Mỹ, giải thưởng Emmy danh giá cho lĩnh vực truyền hình vừa diễn ra trong những ngày cuối tháng 9, vinh danh những tác phẩm để lại quá nhiều dư âm cho khán giả. Đó là “Chernobyl” – bộ phim 5 tập về thảm họa hạt nhân nhưng cũng là thảm họa nhân tính kinh hoàng của thế kỷ 20, dằn vặt lương tâm con người về câu hỏi “cái gì là sự thật?”. Đó là phần khép lại loạt phim “Games of Thrones”, dù không xuất sắc như kỳ vọng nhưng xét cho cùng, sau chừng ấy mùa phim, sau chừng ấy những cảm xúc mà nó đã từng đem đến, khi nó đi tới dấu chấm sau cùng, nó cũng vẫn đáng được tri ân.

“Game of Thrones” được vinh danh lần cuối cùng tại Emmy.

Và đó là cái kết có hậu để mở đầu một mùa thu với những hành trình mới.

Ngày âm nhạc chết đi: khi phần nhìn lấn át phần nghe

ĐẸP KIDS

Từ sau sự ra đời của truyền hình và những phương tiện nghe nhìn, diện mạo âm nhạc đã thay đổi hoàn toàn. Những trải nghiệm âm nhạc thực sự mở rộng biên giới vượt khỏi thính giác, trở thành câu chuyện của cả thị giác. Người ta bắt đầu thích xem nhạc hơn là nghe nhạc. Nghe khó tin ư? Nếu xét theo số liệu của Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Quốc tế IFPI năm 2018 thì lượt xem video âm nhạc trên YouTube nhiều hơn lượt nghe nhạc của tất cả các nền tảng nghe nhạc trực tuyến cộng lại.

Hình ảnh lấn lướt những thanh âm

Sự phát triển thần tốc của MV trong vài chục năm qua có lẽ là sự đáp lại tất yếu dành cho nhu cầu của thính giả. Song cũng như MTV – kênh truyền hình đã tạo động lực đưa video âm nhạc trở thành yếu tố không thể thiếu trong công nghiệp ghi âm nhưng giờ đây chính nó cũng dẹp âm nhạc xuống hàng thứ yếu để nhường chỗ cho những chương trình tạp kỹ và truyền hình thực tế ăn khách, dường như một điều gì đó mang tính bản thể trong âm nhạc đang biến mất dần. Hình ảnh và vẻ bề ngoài ngày càng lấn lướt những thanh âm, nhất là trong những thị trường âm nhạc non nớt, lung lay tới tận gốc rễ, mà Việt Nam là một ví dụ điển hình.

Năm 2016, Soobin Hoàng Sơn phát hành “Phía sau một cô gái”, xoay vần hoàn toàn sự nghiệp âm nhạc của mình. Tính đến nay, ca khúc này đã đạt tới hơn 224 triệu lượt nghe qua lyrics video trên YouTube và hơn 390 triệu lượt nghe trên Zing MP3.

Năm 2016, Soobin Hoàng Sơn phát hành “Phía sau một cô gái”, xoay vần hoàn toàn sự nghiệp âm nhạc của mình. Tính đến nay, ca khúc này đã đạt tới hơn 224 triệu lượt nghe qua lyrics video trên YouTube và hơn 390 triệu lượt nghe trên Zing MP3. Vậy mà, Music Video (MV) của nó được phát hành sau đó lại chỉ đạt được lượt xem trên YouTube chưa bằng số lẻ của lyrics video. Quá u uất, lệch pha so với tưởng tượng, diễn xuất đơ cứng, đó là những gì người ta nói về MV “Phía sau một cô gái”. Sự thất bại của một MV, bỗng nhiên, lại bị coi là cú chững lại của một ca sĩ, điều đó cũng chẳng khác việc đánh giá thấp một bộ phim vì trailer hay poster của nó không bắt mắt là mấy. Nhưng ở Việt Nam là như thế, MV là một cán cân công lý minh định sức nóng sự nghiệp của người làm nhạc.

Trong khi đáng ra chỉ là một phần của sản phẩm âm nhạc, cuối cùng MV lại trở thành tất cả. Ngược lại, ca khúc hay bản ghi âm từ linh hồn giờ đây teo bé thành một phần phụ của MV, so ra thì chẳng quan trọng gì hơn áo quần và cốt truyện trong MV đó. Đến mức mà, ở Việt Nam, người ta chuyển sang phê bình… MV, tỉ như cho “Anh ơi ở lại” của Chi Pu 7 điểm, rồi “Hãy trao cho anh” của Sơn Tùng M-TP thì được 7,5 điểm.

Soobin Hoàng Sơn không thể leo lên đỉnh cao nhất của sự nghiệp chỉ vì hiệu ứng đi xuống của MV “Phía sau một cô gái”

Đây là một sự lạ, bởi ngay cả những trang báo hàng đầu về văn hóa nói chung và âm nhạc nói riêng như Rolling Stones, Pitchfork, NME, The Guardian, Variety… hay những nền tảng đánh giá như Metacritic, chưa ở đâu chấm điểm MV cả. Họ chỉ chấm điểm album hay liveshow, đến cả bài hát còn hiếm khi.

Vậy thì vai trò của một MV là gì mà lại được tập trung đầu tư nhiều đến thế? Thậm chí, rất nhiều nghệ sĩ còn coi MV là chiến lược phát triển chủ chốt cho con đường âm nhạc?

MV không phải là cốt lõi của âm nhạc

MV có lịch sử gần trăm năm, từ những năm 1920 – khi phim tiếng ra đời, với tiền thân là những bộ phim ca nhạc. Dẫu vậy, phải tới khoảng thập niên 60, thập niên bùng nổ về âm nhạc và truyền hình giải trí thì những MV thực sự mới được định hình. The Beatles có lẽ là những người đầu tiên có một chiến lược dài lâu với video ca nhạc, bắt đầu từ thành công ngoài sức tưởng tượng của bộ phim âm nhạc “A hard day’s night”, vốn dĩ được làm ra để quảng bá cho album cùng tên. Và đến “Strawberry fields forever”, The Beatles đã tạo nên một chuẩn mực cho nền công nghiệp âm nhạc sau này, khi video âm nhạc của họ không chỉ là những hình ảnh đi kèm ca khúc, mà tự thân nó là một tác phẩm avant-garde với những sắp đặt bất thường và thủ pháp quay mang tính thể nghiệm. Cũng từ đây, MV có một đời sống riêng, không hẳn là tách rời khỏi bản ghi âm, nhưng cũng không còn là sản phẩm đính kèm nữa.

Bộ phim âm nhạc “A hard day’s night”, được làm ra để quảng bá cho album cùng tên của The Beatles

Sau đó thì không cần kể nhiều, MTV ra đời, đánh dấu sự lên ngôi của MV. Không thể nói MV không phải một sản phẩm nghệ thuật. “Thriller” của Michael Jackson thậm chí còn được đưa vào Viện lưu trữ phim Quốc gia Hoa Kỳ bởi giá trị đặc biệt mang tính văn hóa – lịch sử – thẩm mỹ, tức là xếp chung cùng những kiệt tác điện ảnh như “Cuốn theo chiều gió”, “Công dân Kane”. Và rồi có rất nhiều đạo diễn lớn đã bắt đầu khởi nghiệp từ đây. Trước khi làm “Fight club”, “The curious case of Benjamin Button”“The social network”, David Fincher từng làm MV cho Michael Jackson, Madonna, Aerosmith. Còn Lasse Hallström, trước khi nhận đề cử Oscar cho “My life as a dog”, ông khởi nghiệp với công việc làm MV cho ABBA. Đến cả khi MTV đã đi xuống thì MV cũng không tàn lụi, nó chỉ chuyển sang một vòng đời mới còn dồi dào sức sống hơn: YouTube.

Mặc dù vậy, ngay từ buổi sơ khởi của mình, MV đã được định dạng vai trò là công cụ truyền thông và quảng bá nhằm thúc đẩy doanh số bán ca khúc và album. Chưa bao giờ khác, dù cho kỹ xảo làm MV có đi xa tới mức nào. Cốt lõi của âm nhạc vẫn luôn luôn là âm nhạc, như giải Grammy chẳng hạn, những hạng mục cao quý nhất là “Album của năm”, “Ghi âm của năm”, và Viện Hàn lâm cũng chẳng quan tâm liệu MV của các ca khúc đề cử tại hạng mục này hay hay dở, thậm chí không có MV cũng chẳng sao.

“Thriller” của Michael Jackson có công mở ra thời đại nhạc hình

Để làm rõ thêm, cũng phải nói rằng không thể nói MV không bán được. Với những siêu sao ca nhạc, cái gì họ cũng bán được, đến áo in mặt mình còn bán được, cho nên chẳng tội gì họ không bán cả MV. Như nghệ sĩ nhạc rock Bryan Adams, sau khi cho khán giả xem miễn phí các video âm nhạc chán chê, ông tổng hợp một loạt các video ca nhạc lại trong một album mang tên “So far so good”, và bán tới hơn 13 triệu bản trên toàn cầu.

Nhưng trong nền âm nhạc Việt Nam hiện nay, bán album còn khó, bán video album chắc là một chuyện không tưởng, và như thế, MV vẫn là sự cho không, vẫn chẳng có thị trường nào được tạo ra. Các nghệ sĩ “muốn qua sông phải lụy đò”, họ vẫn phải chịu sự chi phối quá lớn từ những nhà tài trợ. Âm nhạc vì thế mà ngày càng méo mó.

“Despacito” trở thành ca khúc được phát trực tuyến nhiều nhất mọi thời đại, với lượt xem từ YouTube chiếm đa số

Sự biến dạng của MV, sự biến dạng của âm nhạc

Ở phương Tây, có hai ngày từng được gọi là “ngày âm nhạc chết đi”, một là ngày chiếc phi cơ chở Buddy Holly, Ritchie Valens và The Big Bopper gặp tai nạn cướp đi sinh mạng của cả ba huyền thoại rock, và hai là ngày John Lennon bị ám sát. Còn ở Việt Nam, “ngày âm nhạc chết đi” có lẽ rất nhiều và ngày càng xuất hiện dồn dập hơn.

Không có một thị trường nghe đúng nghĩa, nghệ sĩ buộc phải lấp đầy sự nghiệp âm nhạc của mình bằng phần nhìn. Với chi phí sản xuất đắt đỏ lên đến 500 triệu tới 1 tỷ đồng, mỗi MV là một mảnh đất màu mỡ cho các nhãn hàng. Chỉ cần tài trợ một khoản tiền tương đối là thương hiệu có thể lồng ghép, kiểm soát thông điệp của MV. Mối quan hệ cộng sinh này chẳng có gì nguy hại cho đến khi cán cân giữa nghệ thuật và tiền bạc bị nghiêng hẳn về một bên.

Hồ Ngọc Hà triệt tiêu nghệ sĩ tính của mình bằng một sản phẩm tràn ngập quảng cáo

Kết quả cho ta một sản phẩm như “Vẻ đẹp 4.0” của Hồ Ngọc Hà, khi từ nội dung bài hát cho tới kịch bản MV đều phục vụ nhu cầu bán dịch vụ của nhà tài trợ. Dạo gần đây, tưởng như Tiki đã thống trị cả thị trường MV Việt, khi mà từ nam chính trong MV “Đừng yêu nữa, em mệt rồi” của Min đến nhân vật bạn gái của Erik trong MV “Anh ta là sao?”, rồi nàng Cám Chi Pu trong MV “Anh ơi ở lại?” và hằng hà sa số các nhân vật khác, dù trong bối cảnh MV hết sức khác nhau, không loại trừ cả cổ trang, mỗi người đều được dúi vào tay một gói hàng của Tiki với thông điệp “cần là có ngay”.

Không phải MV quốc tế không có quảng cáo, thậm chí MV quốc tế còn quảng cáo nhiều hơn gấp bội lần so với MV của các ca sĩ Việt Nam. Đếm sơ sơ trong “Telephone” của Lady Gaga cũng có tới chục nhãn hàng xuất hiện, nhân vật trong MV của cô đeo tai nghe HeartBeats, dùng điện thoại Virgin, máy tính HP, cuốn tóc bằng những lon Coke Diet… Âm nhạc quốc tế thương mại hóa tới mức các ca sĩ còn bán các suất đưa tên sản phẩm vào lời bài hát. Việc văn hóa pop sáp nhập cùng chủ nghĩa tiêu dùng và các siêu tập đoàn đã sớm được dự đoán từ khi Andy Warhol đặt bút vẽ những hộp sốt cà chua Campbell. Xem “What do you mean?” của Justin Bieber, người ta sẽ không bao giờ có cảm giác đó là một MV quảng cáo cho Calvin Klein. Hay nhận diện thương hiệu của Beats by Dre và son dưỡng môi EOS chỉ góp vào một phần rất nhỏ trong “We can’t stop” của Miley Cyrus.

Lady Gaga mang rất nhiều quảng cáo vào MV nhưng vẫn trao cho ca khúc của mình một diện mạo riêng

Nhưng cho dù các nghệ sĩ ấy đưa vào MV thật nhiều thương hiệu quảng cáo, thì phần thu âm của ca khúc vẫn có một đời sống rất riêng trong âm nhạc: tạo nên doanh số vật lý, xuất hiện trên radio, tồn tại trong các nền tảng nghe nhạc trực tuyến để mang lại lợi nhuận cho ca sĩ.

Còn tại Việt Nam, có cảm tưởng như rất lâu rồi, tất cả khái niệm âm nhạc chỉ được gói gọn trong MV. Ngày càng nhiều kỷ lục được thiết lập. Vô số cái tên tạo “trend”. Trong mắt khán giả giờ đây, âm nhạc phải là loại hình được thưởng thức trực quan chẳng khác gì phim ảnh. Còn đối với ca sĩ, một bài hát mà không có MV kèm theo thì cũng không được tính là một sản phẩm âm nhạc nữa.

Thời đại của những ca khúc độc lập với sức sống dai dẳng được nuôi dưỡng trong những thiết bị phát nhạc đơn thuần đã nhanh chóng bị thay thế bằng một thời đại của YouTube, của kịch bản drama, của meme ảnh chế, của nội dung viral… Việc mượn MV cho mục đích quảng cáo lộ liễu, đó không thể là lời ngụy biện để các nghệ sĩ đánh tráo khái niệm về âm nhạc.

Âm nhạc không thể nào là âm nhạc nếu chỉ đóng vai phụ trên sân khấu đáng ra là của nó.