Ngôi sao điều trị tâm lý trong mắt báo lá cải: khủng hoảng, bệnh tật, điên rồ nhưng đầy tính giải trí!

Hậu Trường

Cho đến bao giờ những người nổi tiếng mới không còn bị truyền thông giám sát bởi những khủng hoảng về đời tư, và tên tuổi của họ ghi dấu trong lòng công chúng nhờ vào thực tài thay vì scandal. Một thế giới lý tưởng không còn những paparazzi trốn trong bụi cây trước trung tâm cai nghiện vẫn còn nằm xa tầm với của các ngôi sao.

Những scandal nóng hổi của các ngôi sao luôn được ưu tiên trên trang chủ của những tờ báo lá cải.

Khủng hoảng tâm lý: kho tàng “view” và doanh số bất tận

Truyền thông từ lâu đã xem đề tài sức khỏe tinh thần và khủng hoảng tâm lý của thế giới người nổi tiếng là “con ngỗng đẻ trứng vàng”. Các tập san lá cải và trang tin Internet đã tạo ra cho mình một kho tàng bài viết chưa bao giờ ngừng nóng về những đợt cai nghiện, những bài viết khơi gợi sự hiếu kỳ và cách giật tít đầy nhạo báng với ngôn từ đả kích. Tệ hơn nữa, cộng đồng người hâm mộ dường như càng quan tâm khi những bài đăng mua vui trên sự suy sụp và khủng hoảng của người khác, xoáy sâu thêm sự kỳ thị và ác cảm sẵn có của cộng đồng, đem lại nhiều hậu quả khó lường.

bao la cai
Britney Spears từng trải qua giai đoạn khủng hoảng đến tuyệt vọng vào giai đoạn năm 2006-2007.

Britney Spears được công nhận là một nạn nhân điển hình của các ấn phẩm không chính thống. Như tạp chí danh tiếng Guardian từng bình luận, “Khi Britney Spears cạo đầu và dùng ô tấn công xe của paparazzi vào năm 2007, chuỗi sự kiện xảy ra vào đêm đó giống như một màn xiếc hấp dẫn trong mắt những khán giả hiếu kỳ khát máu. Vài tháng sau đó, nữ ca sĩ đã phải nhập viện điều trị tâm lý, đám nhiếp ảnh gia chen lấn và xô đẩy nhau trước bệnh viện, cố gắng chụp bằng được một tấm ảnh có mặt cô – một con người đang trong tình trạng đau khổ đến đáng thương – hòa ánh đèn chớp flash của họ lẫn vào ánh đèn chiếc xe cứu thương cô đang ngồi bên trong”.

Một số người nổi tiếng từng phải chịu đựng cuộc sống dưới sự ống kính giám sát vô cảm của paparazzi đã kể về trải nghiệm của họ. Chẳng như Amanda Bynes.  “Vô số bài báo trong suốt nhiều năm qua cố gắng gán ghép tên một bệnh lý tâm thần cho những hành vi của tôi“, nữ diễn viên trải lòng với tạp chí Paper, “Việc báo chí cứ thay bác sĩ chuẩn bệnh cho bạn và gán ghép bệnh lý theo ý thích của họ chẳng hề vui vẻ dễ chịu gì… Dù bạn có lên tiếng phủ nhận và nói ra sự thật, họ cũng chẳng tin đâu”.

bao la cai
Hình ảnh nữ ca sĩ đầy mệt mỏi khiến các khán giả của cô lo lắng, đặt ra nhiều giả thuyết.

Liên tưởng chuỗi ngày đen tối trước đây của công chúa nhạc Pop với sự việc Britney Spears lại tiếp tục phải tham gia điều trị tâm lý trong thời gian gần đây, những thông điệp ủng hộ và đầy yêu thương từ người hâm mộ đang vượt lên trên sự yên ắng thờ ơ của báo lá cải. Đây là sự tương phản rõ rệt và tích cực so với phản ứng của truyền thông hơn một thập kỷ trước. Nhưng vẫn còn một chặng đường dài trước khi chúng ta tới được đích đến hoàn mỹ. Dù cho sức khỏe tinh thần của Britney đã trở thành một đề tài khá lỗi thời, quyết định tìm tới liệu pháp tâm lý gần đây của cô lại mang đến một đề tài bàn tán khác trên mạng xã hội.

Người nổi tiếng càng lao đao, truyền thông càng thích thú

Khi truyền thông đồn đoán về việc Britney bị giam lỏng trong trung tâm điều trị tâm lý, cộng đồng người hâm mộ cô đã đồng lòng phát động phong trào #FreeBritney. Cuối cùng, nhân vật chính cũng cảm thấy cần phải lên tiếng, “Tôi muốn lên tiếng, vì mọi thứ hình như đang vượt quá tầm kiểm soát. Chà! Có nhiều tin đồn và lời đe dọa tới gia đình và đội ngũ của tôi, mọi người truyền tai nhau những chuyện điên rồ về tôi. Tôi chỉ muốn tĩnh lặng một chút, nhưng mọi thứ dường như ngày càng khó khăn hơn với bản thân tôi“. Tuy vẫn còn rất nhiều nghi vấn xoay quanh quyền bảo hộ của nữ ca sĩ, cơn bão suy đoán đồn thổi ngoài kia – dù xuất phát từ thiện ý đi nữa – cũng chưa bao giờ làm giảm đi áp lực trên đôi vai cô từ khi vào nghề.

bao la cai
Báo chí từng đưa tin như thể sự nghiệp của Kanye West sắp lụi tàn vì những khủng hoảng tâm lý.

Thực chất, lời phê phán của Bynes về những “chuyên gia tâm lý lá cải nửa mùa” là không sai, ngay cả trong hiện tại, từ những lời đồn đoán rằng mối quan hệ tiến triển nhanh chóng của Ariana Grande và Pete Davidson có liên quan tới hội chứng rối loạn nhân cách, cho tới việc công chúng xầm xì không ngớt chỉ vì Kanye West từng chia sẻ rằng anh bị chuẩn đoán mắc phải chứng rối loạn lưỡng cực và từ chối trị liệu bằng thuốc.

Nữ nhà văn Lux Alptraum từng phát biểu trên tạp chí Vox, “Đối xử với một người đang suy yếu về mặt tinh thần khi khả năng đưa ra quyết định của họ không đủ sáng suốt, và cổ súy cho quan điểm rằng con người bị định đoạt hoàn toàn bởi cái danh xưng bệnh lý mà họ mắc phải, cho rằng họ không thể nào vượt qua được căn bệnh đó, trong khi nó chỉ là một góc nhỏ của bức tranh toàn cảnh. Có lẽ sẽ tốt hơn nhiều nếu như chúng ta ngưng dò xét đời tư của người nổi tiếng như đang xem một chương trình truyền hình thực tế, thổi phồng mọi cử chỉ nhỏ nhặt bất thường của họ. Việc họ nổi nóng trên Twitter hay chia tay một người quá chóng vánh không có nghĩa là họ đang mắc bệnh tâm thần, mà cho dù họ có mắc bệnh thật đi chăng nữa, phóng đại mọi thứ trên truyền thông chỉ khiến mọi chuyện tồi tệ hơn mà thôi”.

Trong cuộc trò chuyện gần đây cùng David Letterman, Kanye West đã ám chỉ các bài báo bàn tán về bệnh lý của mình là “Bạn sẽ bắt đầu cư xử kỳ lạ và thất thường, vì trang TMZ sẽ đưa tin như thế”. Anh giải thích rằng truyền thông có xu hướng diễn giải mọi phát ngôn của anh theo hướng “điên rồ hơn”. “Họ thích dìm bạn xuống. Họ luôn trích dẫn câu nói của bạn không trọn vẹn. Bạn có nói gì đi nữa cũng chẳng còn quan trọng“. Ví von gánh nặng tâm lý với vết thương thể xác, anh nói: “Khi thấy một người bị đau chân, mọi người sẽ thôi không xô đẩy anh ta nữa. Còn với chúng tôi, khi đầu óc chúng tôi đã căng thẳng quá sức chịu đựng, người ta còn tìm mọi cách khiến nó tồi tệ hơn”.

Viễn cảnh trong mơ

bao la cai
Báo chí luôn có xu hướng thổi phồng tình trạng sức khoẻ của các ngôi sao theo chiều hướng tiêu cực.

Kanye West từng được tôn vinh vì dám lên tiếng thừa nhận những vấn đề về sức khỏe tâm thần anh gặp phải. Đây là vấn đề mà rất nhiều người đang gánh chịu nhưng lại bị sự kỳ thị của số đông làm cản trở quá trình chữa trị và hồi phục. 

Vô số bài báo đang tích cực thúc đẩy cho cuộc cách mạng thay đổi định kiến về những khủng hoảng sức khỏe của dàn sao hạng A. Một bài viết dẫn dắt: “Dwayne ‘The Rock’ Johnson từng vật lộn với trầm cảm. Mariah Carey mới tiết lộ rằng cô mắc chứng rối loạn lưỡng cực. Hoàng tử Harry cho biết ông cần nhiều buổi tư vấn trong suốt những năm đau buồn và tức giận sau cái chết của mẹ ông, công nương Diana. Và ngôi sao của Deadpool, Ryan Reynolds, thừa nhận mình phải chịu đựng chứng rối loạn lo âu. Khi tư tưởng kỳ thị xung quanh những bệnh lý tâm thần đã giảm nhiều những năm gần đây, nhiều người nổi tiếng đã may mắn không còn phải miễn cưỡng trả lời những câu hỏi xoáy sâu công kích vào tình trạng sức khỏe của chính họ. Giờ đây các ngôi sao đã có thể trải lòng về những yếu đuối hay thương tổn họ gặp phải mà không cần che giấu đề phòng như xưa”.

Nam diễn viên Kit Harington người thủ vai Jon Snow trong bộ phim truyền hình ăn khách “Game of Thrones” đang phải đi điều trị sức khỏe vì căng thẳng, kiệt sức và nghiện rượu.

Song bên cạnh sự thay đổi tích cực đó, vẫn còn không ít những tiêu đề coi “tâm thần” là điểm nhấn đắt giá và “cai nghiện” là ngọn lửa của scandal. Mới đây, nam diễn viên Kit Harington đã suy sụp và phải nhập viện điều trị tâm lý cùng chứng nghiện rượu. Lên tiếng giữa làn sóng bàn tán, người đại diện của anh đã phát ngôn trên tạp chí Page Six: “Kit đã quyết định tận dụng khoảng thời gian nghỉ ngơi khi lịch trình quay kết thúc làm cơ hội tham gia điều trị và giải quyết những vấn đề cá nhân.” Không bàn tới việc một ngôi sao bước chân vào trung tâm điều trị có nên được ưu ái dành cho vị trí nổi bật trên trang nhất hay không, hậu quả tiêu cực báo giới mang lại mới là thứ cần lưu ý.

Những chuyên trang giải trí như Page Six, TMZ hay The Daily Mail đều liên tục cập nhật tin tức và săn ảnh chụp về quá trình điều trị của nam diễn viên. The Daily Mail tự hào đăng tải “những bức ảnh độc quyền toàn thế giới” về “lần đầu tiên Harington xuất hiện kể từ khi bắt đầu bước vào trung tâm điều trị sang trọng này”. Tờ TMZ thì liên tục đưa tin giúp độc giả nắm rõ số giờ Harington tập luyện trong phòng gym của trung tâm. Tư duy và góc nhìn thiếu nhân văn này tiếp tục bóp nghẹt cuộc sống của những người nổi tiếng bằng sự soi mói ngoài ý muốn. 

Demi Lovato và Selena Gomez từng là “miếng mồi ngon” của truyền thông mỗi khi gặp vấn đề về tâm lý và sức khoẻ.

Cho đến bao giờ những người nổi tiếng mới không còn bị truyền thông giám sát bởi những khủng hoảng về đời tư, và tên tuổi của họ ghi dấu trong lòng công chúng nhờ vào thực tài thay vì scandal. Một thế giới lý tưởng không còn những paparazzi trốn trong bụi cây trước trung tâm cai nghiện vẫn còn nằm xa tầm với của các ngôi sao.

Bài: : Lam Mai

06/06/2019, 07:00

Bi kịch Britney Spears: từ nạn nhân của ái tình đến cỗ máy kiếm tiền cho gia đình

Bài viết nổi bật

Nếu nói về một tượng đài có sức lan tỏa khổng lồ trong làng nhạc thế giới, chắc hẳn không ai có thể bỏ qua Britney Spears – công chúa nhạc Pop. Ra mắt lần đầu vào năm 1998, ca khúc đầu tay huyền thoại của cô – “…Baby One More Time” đã trở thành siêu hit trên toàn cầu, đạt vị trí quán quân tại tất cả các nước Mỹ, Anh, Pháp, Nhật, Úc,… Trong suốt những năm rực rỡ của trào lưu teen pop (cuối thập niên 90), thời kỳ nóng bỏng, sexy đầu thập niên 2000 đến khi nhạc điện tử lên ngôi vào cuối thập niên 2010, Britney vẫn giữ vững vị thế của một biểu tượng âm nhạc, với sức hút mãnh liệt cả trên sân khấu lẫn ngoài đời tư.

Đời tư chưa bao giờ được yên ổn

Tờ bìa tạp chí đập tan hình ảnh ngoan hiền của Britney Spears.

Nhưng cũng chính danh tiếng ấy trở thành con dao hai lưỡi, gây ra những tổn thương không thể chữa lành cho Britney. Bởi bên dưới những lớp phục trang bốc lửa, bắt mắt của một siêu sao lại là tâm hồn mong manh, yếu mềm của cô gái bị đẩy ra trước hào quang quá sớm. Ít ai biết được rằng, khi bắt đầu được các hãng đĩa chiêu mộ, Britney hoàn toàn không định trở thành ngôi sao Pop. Hình tượng mà cô hướng đến chỉ là một nghệ sĩ country/blues nhẹ nhàng, tình cảm giống như Sheryl Crow. Chính hãng đĩa JIVE Records cùng nhà sản xuất Eric Foster White đã yêu cầu cô tập trung vào thể loại teen pop hiện hành, và uốn nắn chất giọng vốn thấp, đầy đặn của Britney thành kiểu giọng cao, mảnh thích hợp cho dòng nhạc này.

Ban đầu, thành công và danh tiếng khiến cô gái 18 tuổi Britney Spears vô cùng hạnh phúc. Đối với cả gia đình cô, gồm bà mẹ Lynne và ông bố James Spears, đây cũng là thành quả mà họ luôn mong mỏi sau nhiều năm trời cho con gái tập luyện, thi thố để rèn giũa tài năng. Nhưng ngày tháng trôi qua, hình tượng công chúa pop mà cả gia đình và hãng đĩa tốn công xây dựng bắt đầu ảnh hưởng dần tới Britney. Những ca khúc rất thành công như “Oops!… I Did It Again”, “I’m a Slave 4 You”, “Toxic” đã làm nên tên tuổi cho cô, nhưng chúng lại có âm vực cao quá mức khiến Britney chỉ có thể hát trong phòng thu, còn về biểu diễn thì rất khó khăn. Điều này dẫn đến việc cô ngày càng dựa dẫm vào hát nhép, khiến nhiều người sinh nghi về khả năng ca hát của cô (dù Britney thực chất rất tài năng).

Một cảnh trong “Toxic” – MV được đánh giá là xuất sắc nhất sự nghiệp của Britney Spears.

Trên sân khấu đã bị ảnh hưởng không ít, nhưng chừng ấy vẫn chưa là gì so với những rắc rối về đời tư. Trong suốt những năm 2000, không có một ngôi sao nào ở Mỹ bị soi mói, theo đuôi nhiều như Britney Spears. Từng bộ đồ cô mặc ra đường, từng nơi cô tới đều bị thu hết vào ống kính máy quay và tung lên khắp các mặt báo. Từng có thời điểm đầu năm 2007, đến cả bác sĩ nha khoa của Britney – ông William Dorfman cũng phải choáng váng khi thấy quá nhiều paparazzi bám đuôi cô khi đi khám răng. Ông đã xua hết những tay săn ảnh vô tình đi và tuyên bố: “Britney chỉ tới đây để khám và tẩy trắng răng. Đây là điều hoàn toàn bình thường. Các vị hãy để cho cô bé yên“.

Bế tắc trong đời sống tình cảm 

Britney Spears trở thành đề tài bêu rếu của chính người yêu của Justin Timberlake hậu chia tay.

Đối với hầu hết tất cả mọi người, tình cảm luôn là điều riêng tư nhất, cá nhân nhất, chỉ những người bạn thật sự tin tưởng mới được biết và chia sẻ. Nhưng đối với một ngôi sao như Britney Spears, chẳng còn gì trong chuyện tình cảm của cô còn riêng tư được nữa. Năm 2002, cô hẹn hò với một siêu sao khác là Justin Timberlake, tạo nên cặp “công chúa hoàng tử” đẹp như mộng của làng nhạc. Nhưng chẳng mấy chốc, hai người đường ai nấy đi. Trong khi Britney im hơi lặng tiếng, chỉ phát hành một ca khúc “Everytime” như lời xin lỗi, thậm chí bật khóc khi được hỏi về Justin trên truyền hình, thì anh chàng không ngừng đem cô ra bàn tán suốt nhiều năm sau khi hai người chia tay.

Kevin Federline sống nhờ vào tiền trợ cấp hàng tháng của Britney Spears.

Tới năm 2004, Britney tìm được tình yêu lớn thứ hai ở Kevin Federline – một anh chàng vũ công và thậm chí đã đi đến hôn nhân. Nhưng dù cô trân trọng mối tình này, thậm chí tạm nghỉ ca hát để chăm chút cho gia đình, thì giới truyền thông vẫn khiến quan hệ giữa hai người không phút nào được yên ổn. Năm 2007, Kevin và Britney nộp đơn ly dị. Cũng từ đó, cô chính thức rơi vào thời kỳ khủng hoảng nhất với những hành vi như cạo đầu, tấn công cánh săn ảnh, nhốt hai con trai mình vào phòng tắm… Màn tái xuất của cô để quảng báo album “Blackout” cũng bị chê bai là lười biếng, hời hợt, dù sau này, đây được coi là một trong những đĩa nhạc xuất sắc nhất của giới mainstream. Đến nay, Britney vẫn phải chu cấp tiền sinh hoạt và nuôi con cho chồng cũ Kevin, sau đó anh này còn yêu cầu cô phải tăng số tiền trợ cấp và đồng thời trả toàn bộ chi phí thuê luật sư và các khoản liên quan khác.

Phải mất một năm ròng rã, người hâm mộ mới thở phào khi thấy công chúa pop xuất hiện trở lại: tươi tắn hơn, tự tin hơn, và trên hết là đã làm chủ được cuộc đời mình. Các album “Circus” (2008) và “Femme Fatale” (2011) nối tiếp nhau ra mắt, đem về cho Britney những thành công lớn nhất kể từ “…Baby One More Time”. Britney tưởng như đã hồi phục trước mọi tổn thương tinh thần, nhưng trên thực tế, ngần ấy tổn thương đơn giản là bị những người quanh cô giấu giếm, như đống bụi được vùi bên dưới tấm thảm, tránh khỏi con mắt dư luận mà thôi.

Sự thật kinh hoàng đằng được chốn giấu suốt 10 năm 

Ở tuổi 37, những sóng gió về đời tư, tình cảm cá nhân, thậm chí tình cảm gia đình vẫn không ngừng đeo bám Britney Spears.

Theo những thống kê gây sốc mới được tiết lộ gần đây, Britney Spears đã không được sống tự do suốt 10 năm qua, và người lấy đi tự do ấy chính là bố ruột của cô – ông Jamie Spears cùng một nhóm các quản lý và luật sư. Kể từ tháng 2/2008, Britney bị đặt dưới quyền bảo hộ tạm thời của ông Jamie về đời sống cá nhân. Theo đó, cô không có quyền tự do tài chính, không được đi bầu cử, không được phép lái xe, không được thoải mái yêu đương, cũng không được sở hữu điện thoại di động,… Quyền bảo hộ này ban đầu là tạm thời, nhưng sau đó được đổi thành vô thời hạn để Britney có thể đi lưu diễn dưới con mắt quản thúc sát sao của người thân.

Đối mặt với tình trạng bị bảo hộ, mà thực chất là bị quản thúc này, Britney Spears đã có những động thái vô vọng để lấy lại tự do cho mình. Cụ thể, ngay từ năm 2008, sau khi việc bảo hộ được thực thi, cô đã cố thuê cho mình một luật sư riêng, đồng thời nhờ cậy bạn bè tìm cách giúp mình nới lỏng lệnh quản thúc. Tuy nhiên, không một nỗ lực nào của cô cho ra kết quả. Thậm chí, tất cả những diễn đàn người hâm mộ, hay chương trình đưa tin về chuyện bảo hộ của Britney đều bị dọa kiện, hoặc phải cắt hết những đoạn đề cập đến việc này.

Từ nhỏ, Britney Spears đã trở thành cỗ máy in tiền nuôi sống cả gia đình thông qua các điều lệnh quản thúc của cha.

Nghiêm trọng hơn nữa, vào năm 2010, Britney tiếp tục suy sụp khi biết lệnh bảo hộ sẽ kéo dài vĩnh viễn, và có những hành động tương tự như cuộc khủng hoảng năm 2007. Vậy nhưng, thay vì được giới truyền thông đưa tin và công chúng để ý, thì lần này mọi rắc rối cô trải qua đều bị chính những người xung quanh bưng bít, không cho dư luận hay biết chút gì. Tới đầu năm nay, cha của cô, ông Jamie có dấu hiệu sức khỏe nguy kịch, và Britney được báo giới đưa tin đang phải điều trị tâm lý. Tuy nhiên, những thông tin về 10 năm sống chật vật của cô đã được tung ra, khiến người hâm mộ không thể thờ ơ được nữa.

Còn nhớ vào năm 2002, Britney Spears từng tung ra một ca khúc có tên “Overprotected” (Bị bảo vệ quá mức), với những ca từ mạnh mẽ mà day dứt: “Tôi cần thời gian, niềm vui. Tôi cần không gian, và cần chính mình”, hay “Tôi phải làm gì với cuộc sống của mình đây? Làm sao để biết điều gì là đúng đắn. Tôi không thể ngăn dòng cảm xúc này. Cuộc đời của tôi bị bảo vệ quá mức!”. Vào ngày ấy, phần đông mọi người vẫn nghĩ lời bài hát đang ám chỉ những tay săn ảnh, báo giới đang bới móc cuộc đời cô.

Tuy nhiên tới ngày hôm nay, nhiều người đã phải suy nghĩ lại về ca từ của “Overprotected”. Trên sân khấu, cô có thể là biểu tượng nhạc Pop Britney Spears, nhưng trong cuộc sống thường ngày, cô vẫn chỉ là một người phụ nữ yếu mềm, mong manh, đang bị những người xung quanh ngày ngày lợi dụng và kiềm hãm.

Bài: Tuấn Vũ

“Mẹ Rồng” Emilia Clarke: “Tôi từng suýt chết vì một căn bệnh quái ác khi đóng ‘Game of Thrones’ ”

Bài viết nổi bật

Nữ diễn viên nổi tiếng vừa có những chia sẻ chưa từng công bố về căn bệnh phình mạch – thứ đã hai lần đe dọa tính mạng cô giữa thời điểm ghi hình siêu phẩm “Game of Thrones”.

“Ngay tại thời điểm mà mọi giấc mơ thời thơ ấu của tôi đang dần thành hiện thực, tôi suýt nữa đã mất đi ý thức, và rồi cả tính mạng mình. Tôi chưa từng thổ lộ câu chuyện này trước đây, nhưng giờ đã đến lúc”. Đó là lời mở đầu cho những dòng tâm sự mà Emilia Clarke – nữ diễn viên thủ vai nữ hoàng rồng Daenerys trong kiệt tác truyền hình “Game of Thrones” viết gửi tạp chí The New Yorker.

Nữ diễn viên Emilia Clarke vừa có những chia sẻ lần đầu tiên về căn bệnh phình mạch của bản thân.

Đẹp Online xin trích lược một phần bức thư dưới đây:

“Tôi đối mặt với căn bệnh mà một phần ba bệnh nhân mắc phải sẽ tử vong ngay lập tức”

Đó là thời điểm đầu năm 2011. Khi ấy tôi vừa mới quay xong mùa đầu tiên của “Game of Thrones'” – series sử thi mới dựa trên bộ sách kỳ ảo của nhà văn George R. R. Martin. Tôi gần như chưa từng có kinh nghiệm diễn xuất chuyên nghiệp, nhưng họ vẫn giao cho tôi vai diễn lớn vô cùng: Daenerys Stormborn nhà Targaryen, hay còn gọi là Khaleesi của Biển Cỏ Dothraki, công nương đảo Dragonstone, người phá bỏ xiềng xích, kẻ không thể thiêu cháy, và Mẹ Rồng. Dù còn nhỏ tuổi, nhưng Daenerys đã bị bán làm dâu một mã tướng man di có tên Drogo. Câu chuyện tiếp diễn sau đó rất dài, tận 8 mùa phim, nhưng cứ hiểu nôm na là cô ấy đã mạnh mẽ lên rất nhiều, trưởng thành hơn rất nhiều. Cô ấy trở thành một biểu tượng nữ quyền và lòng trân trọng bản thân. Trước khi tôi kịp nhận ra, đã có hàng nghìn bé gái khắp nơi đội tóc giả bạch kim và diện bộ cánh thướt tha của Daenerys vào dịp lễ Halloween.

Daenerys Targaryen là vai diễn lớn trong sự nghiệp của nữ diễn viên nổi tiếng.

Hai biên kịch của phim, David Benioff và D.B. Weiss bảo tôi rằng nhân vật này là sự kết hợp của Napoleon, nữ tướng Joan Arc, và Lawrence Xứ Ả Rập. Vậy nhưng, chỉ vài tuần sau khi đóng máy mùa đầu tiên, tôi chẳng còn cảm thấy vô địch như các nhân vật đó nữa, thay vào đó là nỗi sợ hãi. Tôi sợ những ánh mắt chú ý, sợ ngành công nghiệp phim ảnh đồ sộ mà mình mới dò dẫm dấn thân vào, sợ làm thất vọng những độc giả trung thành của bộ sách. Tôi cảm thấy, vượt lên mọi cảm giác khác, một sự trần trụi. Ngay trong cảnh đầu tiên của mình, tôi đã khỏa thân. Và kể từ buổi họp báo đầu tiên trở đi, tôi phải luôn miệng trả lời một câu hỏi duy nhất: “Nhân vật của cô rất mạnh mẽ, sao cô cứ phải cởi đồ vậy?”. Tôi đáp lại rất từ tốn, nhưng trong đầu thì chỉ muốn hét lên: “Cô ấy phải giết bao nhiêu người trong phim thì mới chứng tỏ bản thân được đây?”.

Khi bắt đầu quay phim, cô sợ mọi thứ xung quanh của ngành công nghiệp phim ảnh đồ sộ mà mình mới dò dẫm dấn thân vào.

Để xả bớt nỗi căng thẳng, tôi tìm đến phòng tập. Một trong những điều cần thiết của một diễn viên truyền hình chính là nó: tập thể hình. Tôi vẫn nhớ rõ, vào buổi sáng ngày 11 tháng 2 năm 2011, tôi đang trong phòng thay đồ ở một phòng tập khu Crouch End, Bắc Luân Đôn, thì bất chợt cảm thấy đau đầu. Trong phút chốc, nó đã nặng đến mức làm tôi choáng váng, khó khăn lắm mới xỏ giày được vào chân. Nhưng tôi vẫn ra phòng tập, và gắng gượng tập vài bài đầu tiên.

Rồi đến lúc huấn luyện viên bảo tôi nằm xuống tập động tác plank, và ngay lập tức, tôi có cảm giác như não mình bị một sợi dây siết lại. Tôi cố làm lơ cơn đau, nhưng không thể. Tôi bảo huấn luyện viên rằng mình cần nghỉ vài phút. Bằng cách nào đó, gần như là bò đi, tôi trở lại được phòng thay đồ, gục đầu bên chậu rửa mặt và nôn thốc nôn tháo. Suốt thời gian đó, cơn đau trong đầu tôi chỉ tăng lên chứ không hề giảm. Và trong thâm tâm, tôi biết mình đang gặp rắc rối rất nghiêm trọng.

Trong vài tháng sau đó, tôi cố gắng vượt qua cơn đau và những lần chóng mặt. Tôi tự nhủ với mình “Mày làm sao mà liệt người được”. Và sau mỗi lần nghĩ như vậy, tôi bất giác lại duỗi ngón tay ra để biết chắc điều ấy vẫn còn đúng. Việc học thuộc những câu thoại trong “Game of Thrones” đã giúp tôi giữ lại chút nào đó tâm trí mình, nhưng cũng chẳng duy trì mãi được.

Để giải tỏa những căng thẳng, Emilia Clarke đã tìm đến phòng tập thể hình.

Rồi tới lúc tôi nghe một giọng phụ nữ từ buồng bên cạnh vọng sang, hỏi xem tôi có ổn không. Và tôi không ổn chút nào. Cô ấy chạy sang giúp tôi đứng lên, và từ đó, mọi thứ tôi nhớ chỉ còn là mảng mờ mịt. Tôi nhớ mang máng tiếng còi xe cấp cứu, tiếng nói của bác sĩ, lời chẩn đoán của họ rằng mạch của tôi đang yếu đi. Tôi nôn không ngừng. Có người tìm thấy di động của tôi và gọi cho bố mẹ tôi, khi đó đang sống ở Oxfordshire.

Tôi bị chảy máu vùng dưới màng nhện bọc não (hay viết tắt là SAH), một kiểu đột quỵ gây nguy hiểm đến tính mạng, do máu chảy vào vùng bao quanh não bộ. Tôi vừa bị phình, vừa bị vỡ động mạch.

Tôi vẫn không tài nào nhận thức rõ được mọi thứ xung quanh mình, chỉ lờ mờ cảm thấy mình đang được đặt lên giường, đưa lên xe cứu thương, rồi vào một căn phòng đầy mùi thuốc tiệt trùng. Chẳng ai biết tôi gặp phải chuyện gì, nên các bác sĩ không thể cho tôi thuốc để giảm cơn đau. Cuối cùng, tôi được đưa đi chụp não. Kết quả cho ra rất nhanh và đáng lo ngại: tôi bị chảy máu vùng dưới màng nhện bọc não (hay viết tắt là SAH), một kiểu đột quỵ gây nguy hiểm đến tính mạng, do máu chảy vào vùng bao quanh não bộ. Tôi vừa bị phình, vừa bị vỡ động mạch.

Sau này tôi mới biết, khoảng một phần ba bệnh nhân mắc chứng này sẽ tử vong ngay lập tức, hoặc rất nhanh sau đó. Với những người may mắn sống sót, họ cần được điều trị khẩn cấp để chỗ mạch phình không vỡ. Nhưng kể cả như vậy, vẫn có khả năng rất cao bị chảy máu lần thứ hai, có thể gây chết người. Nếu tôi may mắn qua khỏi thêm cả lần đó, chi phí chữa trị sẽ lên cao đến mức không dám tưởng tượng. Và kể cả đến lúc đó, vẫn không có gì đảm bảo mọi nguy hiểm đã qua đi.

“Mẹ Rồng” từng trải qua khoảng thời gian nguy kịch khi đối mặt với  căn bệnh quái ác.

Vào buổi đêm, tôi được chuyển đến Viện Thần Kinh và Phẫu Thuật Quốc Gia, một tòa nhà gạch đỏ đẹp đẽ nằm ở khu trung tâm Luân Đôn. Mẹ tôi phải thu mình ngủ trên ghế ở khu thăm nom, trong khi tôi mê mê tỉnh tỉnh, lẫn lộn giữa đau đớn, mệt mỏi và ác mộng.

Tôi nhớ mình được đưa cho tờ đơn đăng ký phẫu thuật. Phẫu thuật não ư? Tôi đang ở giữa cuộc sống diễn viên bộn bề, tôi làm gì có thời gian phẫu thuật não? Nhưng cuối cùng, tôi cũng thỏa hiệp và chấp nhận kí. Rồi tôi được gây mê. Trong vòng 3 tiếng sau đó, các bác sĩ đã chữa não cho tôi. Nhưng đó chưa phải là ca phẫu thuật cuối cùng, và còn chưa phải là ca tệ nhất. Lúc đó, tôi mới 24 tuổi.

Dù mới 24 tuổi nhưng Emilia Clarke đã phải đối mặt với một căn bệnh hết sức nguy hiểm.
“Cha tôi nói diễn viên đều là đồ tự phụ và thất nghiệp”

Tôi lớn lên ở Oxford và chẳng mấy khi để tâm đến sức khỏe. Hầu hết những suy nghĩ của tôi là về diễn xuất. Cha tôi là thiết kế âm thanh. Ông từng góp công trong các vở kịch “Câu Chuyện Miền Tây”“Chicago” trên sân khấu West End. Mẹ tôi thì là một doanh nhân, bà là phó chủ tịch mảng marketing của một văn phòng quản lý đa quốc gia. Gia đình tôi không giàu có, nhưng anh trai và tôi vẫn được học trường tư. Cha mẹ, vốn luốn muốn chúng tôi có những gì tốt nhất, luôn phải chật vật với chi phí đắt đỏ hàng năm.

Tôi không nhớ rõ từ khi nào mình bắt đầu muốn làm diễn viên. Cha mẹ bảo tôi đó là vào năm lên 3 hay 4 tuổi. Tôi đi cùng cha đến nhà hát kịch, và mê mệt những hoạt động trong cánh gà: những câu chuyện phiếm, đạo cụ, phục trang, tới cả những tiếng nhắc nhau khe khẽ khi đèn mờ dần. Lúc tôi 3 tuổi, cha đưa tôi đi xem vở kịch “Du Thuyền Ca Múa”. Dù tôi hồi nhỏ là đứa trẻ rất nghịch và ồn ào, nhưng tôi đã ngồi yên lặng xem hết hơn 2 tiếng vở kịch đó. Khi tấm màn khép lại, tôi đứng trên ghế và hoan hỉ vỗ tay trên đầu.

Đam mê diễn xuất cháy bỏng nhưng chính bản thân cô cũng không nhớ rõ từ khi nào mình bắt đầu muốn làm diễn viên.

Về nhà, tôi bắt đầu bật băng xem đi xem lại bộ phim “Yểu Điệu Thục Nữ” (My Fair Lady) đến mức cuộn băng suýt thì hỏng. Tôi mê mệt câu chuyện về người thợ điêu khắc Pygmalion tạo nên vợ mình từ bức tượng  trong thần thoại Hy Lạp. Và từ đó, tôi nghĩ chỉ cần tập luyện chăm chỉ và được hướng dẫn tốt, tôi ắt sẽ thành công. Cha tôi không hài lòng lắm khi tôi bảo ông mình muốn làm diễn viên. Ông ấy đã biết kha khá diễn viên rồi, và theo ý ông, họ đều là đồ tự phụ và thất nghiệp.

Trường mẫu giáo của tôi, ngôi trường Sóc Nhỏ ở Oxford là một nơi bình dị, ngăn nắp và dễ chịu. Khi lên 5 tuổi, tôi được đóng vai chính trong vở kịch. Tiếc là tới lúc lên sân khấu và nói thoại, tôi lại quên hết toàn bộ. Tôi cứ đứng giữa sân khấu, đơ người ra, cảm nhận mọi thứ xung quanh. Ở hàng ghế đầu, các giáo viên đều cố nhép miệng để nhắc tuồng cho tôi. Thực ra, tôi đâu có sợ. Tôi rất bình tĩnh, như thể đang làm quen với ngôi nhà mới mà mình sẽ cư trú rất lâu. Trạng thái đó tới giờ vẫn thường xuyên diễn ra. Tôi có thể đứng trên thảm đỏ, với cả ngàn máy ảnh xung quanh mà không nao núng. Tất nhiên, bảo tôi đi ăn tối với 6 người lạ đi, mọi chuyện sẽ khác ngay.

Theo thời gian, tôi bắt đầu diễn tốt hơn, cũng thuộc thoại hơn. Nhưng tôi chẳng phải thiên tài diễn xuất.

Theo thời gian, tôi bắt đầu diễn tốt hơn, cũng thuộc thoại hơn. Nhưng tôi chẳng phải thiên tài diễn xuất. Năm tôi lên 10, cha dẫn tôi đi thử vai trong vở kịch “Cô Bé Tạm Biệt” của Neil Simon ở nhà hát West End. Khi vào bên trong, tôi thấy cô bé nào thử vai đó cũng hát một bài trong vở nhạc kịch “Đàn Mèo”. Còn tôi thì chỉ biết hát bài dân ca “Cưỡi Lừa”. Sau khi kiên nhẫn nghe tôi hát hết, có người hỏi tôi: “Cháu hát bài khác hiện đại hơn được không?”. Và rồi tôi gân cổ lên hát bài “Wanna be” của nhóm Spice Girls. Cha tôi chỉ biết ôm mặt. Tất nhiên là tôi trượt vai, thật may làm sao. Cha tôi bảo: “Sẽ tệ hơn nhiều nếu con được chọn, và họ chê con bằng những bài báo”.

Khi được cháy với đam mê diễn xuất, “mẹ rồng” dường như không sợ mọi thứ xung quanh.
Tôi kiếm sống bằng những công việc ở quán nước, trung tâm điện thoại, thậm chí chỉ đường nhà vệ sinh trong bảo tàng. Mỗi giây đều dài như vài ngày.

Nhưng tôi vẫn kiên trì. Ở trường, tôi đóng Anita trong “Câu Chuyện Miền Tây”, Abigail trong vở “Nồi Luyện Kim”, một trong ba mụ phù thủy trong vở “Macbeth”,  Viola trong vở “Đêm Thứ Mười Hai”. Sau khi tốt nghiệp trung học, tôi nghỉ một năm, thử làm công việc bồi bàn và đi du lịch ba lô tới châu Á. Rồi tôi bắt đầu theo học lớp diễn xuất ở Trung Tâm Kịch Nói Luân Đôn để thi đỗ khóa học 3 năm. Là lính mới, chúng tôi phải học mọi thứ, từ vở “Vườn Anh Đào” tới vở “Dây Điện”. Tôi không được diễn vai chính, các cô nàng cao, tóc vàng, mảnh mới được nhận vai đó. Tôi chỉ được đóng bà mẹ dân Do Thái trong vở “Thức Giấc và Hát!”. Các bạn sẽ cười chết khi nghe tôi nhái giọng vùng Bronx cho xem.

Sau khi tốt nghiệp, tôi tự hứa với chính mình: trong một năm tới, tôi sẽ chỉ diễn những vai có tiềm năng. Tôi kiếm sống bằng những công việc ở quán nước, trung tâm điện thoại, thậm chí chỉ đường nhà vệ sinh trong bảo tàng. Mỗi giây đều dài như vài ngày. Nhưng tôi rất quyết tâm: Một năm không diễn vai linh tinh, không tham gia những vở kịch chắp vá nữa.

Khi vừa tốt nghiệp, Emilia Clarke quyết tâm chỉ diễn những vai có tiềm năng.
Nhảy điệu gà đập cánh và người máy khi thử vai cho ‘Game of Thrones’. Tôi biết mình hỏng bét rồi.

Vào mùa xuân năm 2010, người đại diện gọi cho tôi và nói đang có một buổi thử vai ở Luân Đôn cho một series phim truyền hình mới của HBO. Chẳng là tập đầu tiên của “Game of Thrones” đã không được chấp nhận, và họ phải tuyển lại nhiều vai, trong đó có Daenerys. Yêu cầu của vai diễn này là một nữ nhân đẹp bí ẩn, tóc trắng muốt. Còn tôi là một cô nàng Anh thấp bé, nảy nở và tóc đen. Sao cũng được. Để chuẩn bị thử vai, tôi phải học thuộc hai đoạn hội thoại thuộc hai cảnh, thứ nhất là ở tập 4, khi Daenerys bị anh trai đánh và phản kháng; một cảnh ở tập 10, khi Daenerys đi vào biển lửa và không mảy may thương tích.

Khi còn học trong trường diễn xuất, nữ diễn viên Emilia Clarke không ít lần gục trên sân khấu. Đó cũng là những dấu hiệu đầu tiên về căn bệnh chảy máu vùng dưới màng nhện bọc não mà cô mắc phải.

Vào thời điểm đó, tôi vẫn luôn nghĩ mình khỏe mạnh. Đôi khi tôi thấy hơi choáng váng, vì tôi bị nhịp tim và huyết áp thấp. Đôi lúc tôi còn lả đi. Năm 14 tuổi, tôi bị đau đầu dữ dội và phải nằm lì trên giường suốt nhiều ngày. Và khi học trường diễn xuất, tôi không ít lần gục trên sân khấu. Nhưng tất cả những thứ đó dường như rất dễ giải quyết. Chúng chỉ giống như hệ quả của sự căng thẳng khi muốn làm diễn viên, hoặc căng thẳng trong đời sống nói chung. Mãi về sau này tôi mới biết, đó có lẽ là những dấu hiệu cơ thể đang nói cho tôi biết.

Những dấu hiệu cơ thể thường xuyên căng thẳng chính là dấu hiệu cảnh báo một căn bệnh nguy hiểm đang rình rập cô.

Tôi thử vai “Game of Thrones” ở một phòng thu âm nhỏ xíu tạ khi Soho. 4 ngày sau đó, tôi nhận một cuộc gọi lại. Có vẻ như lần thử vai của tôi không tệ lắm, và họ muốn tôi bay tới Los Angeles trong vòng 3 tuần sau đó để thử vai trực tiếp trước Benioff, Weiss và đại diện hãng phim. Tôi lao vào tập thể hình để có thể xuất hiện thật tự tin. Trong chuyến bay tới Los Angeles, tôi ngồi ở khu doanh nhân, và đã lấy hết các gói trà ở chỗ của mình về làm kỉ niệm. Khi tới buổi thử vai, tôi không dám nhìn lên sau khi tình cờ bắt gặp một diễn viên khác – xinh đẹp, mảnh mai, cao, tóc vàng. Tôi diễn cả hai cảnh được yêu cầu trên một sân khấu tối tăm, bên dưới chỉ có vài người trong đội sản xuất. Khi hoàn thành thử vai và chẳng ai nói câu gì, tôi buột miệng: “Tôi còn làm điều gì khác được không?”.

Tôi lập tức nhảy điệu gà đập cánh và điệu người máy. Có vẻ như tôi đã làm hỏng bét. Tôi chưa bao giờ là người nhảy giỏi cả.

David Benioff nhún vai: “Cô có thể nhảy”. Không muốn làm ngài ấy thất vọng, tôi lập tức nhảy điệu gà đập cánh và điệu người máy. Có vẻ như tôi đã làm hỏng bét. Tôi chưa bao giờ là người nhảy giỏi cả.

Nhưng khi tôi đang rời khỏi nhà hát, họ chạy tới gọi tôi lại và nói: “Chúc mừng, Công Chúa”. Vai diễn đã thuộc về tôi. Tôi cảm thấy không thở nổi. Khi về đến khách sạn, một vài người rủ tôi lên sân thượng làm vài chầu với họ. Tôi từ chối và nói: “Không sao đâu mà”. Đúng là không sao thật, tôi chỉ đơn giản là về phòng, mở một bịch bánh Oreo, vừa xem lại series hài “Friends” vừa gọi điện khoe cho tất cả mọi người mà tôi biết.

Ca phẫu thuật đầu tiên mà Emilia Clarke trải qua được gọi là loại “xử lý tối giản”.
Ca phẫu thuật đầu tiên 

Ca phẫu thuật đầu tiên tôi trải qua được gọi là loại “xử lý tối giản”, hiểu nôm na là họ vẫn chưa mở hộp sọ tôi ra. Thay vào đó, họ dùng một kĩ thuật gọi là cuộn nội mạch, để luồn một ống dây rất nhỏ vào động mạch ở đùi, cứ thế dẫn lên vòng qua tim và tới não, để xử lý đoạn mạch phình.

Tôi chưa bao giờ thấy hoảng hốt như vậy, như thể cảm giác được sự kết túc đang kề cận. Tôi là một diễn viên, công việc của tôi là nhớ lời thoại. Nhưng giờ đến tên mình tôi cũng không nhớ nổi.

Ca phẫu thuật, như đã nói, kéo dài 3 tiếng. Khi tôi tỉnh lại, cơn đau phải nói là không cách nào chịu đựng được. Tôi không nhớ ra nổi mình đang ở đâu. Tầm nhìn của tôi bị hạn chế. Họng tôi bị nối ống, cả người khô nẻ và buồn nôn khó chịu. Họ chuyển tôi ra khỏi phòng theo dõi sát sao sau đó 4 ngày, và bảo tôi rằng việc cần nhất lúc này là vượt qua 2 tuần tiếp theo. Nếu sau khoảng thời gian đó, tôi không gặp biến chứng nào đáng ngại, thì khả năng phục hồi sẽ tương đối cao.

Vào một buổi tối, sau khi cái mốc 2 tuần đã qua đi, một y tá đánh thức tôi dậy, và cho tôi tập một loạt bài tập về nhận tức. Cô ấy hỏi tên tôi là gì. Thật dễ dàng, là Emilia Isobel Euphemia Rose Clarke. Nhưng vào lúc đó, tôi không tài nào nhớ ra nổi. Thay vào đó, chỉ có một tràng từ vô nghĩa xổ ra từ môi tôi, và tôi trở nên hoảng loạn cực độ. Tôi chưa bao giờ thấy hoảng hốt như vậy, như thể cảm giác được sự kết túc đang kề cận. Tôi là một diễn viên, công việc của tôi là nhớ lời thoại. Nhưng giờ đến tên mình tôi cũng không nhớ nổi.

Sau khi phẫu thuật, Emilia Clarke gặp khủng hoảng nghiêm trọng khi trí nhớ bị suy giảm.
Có những khoảnh khắc tồi tệ, khi tôi chỉ muốn rút cái máy duy trì sự sống ra.

Triệu chứng mà tôi mắc phải gọi là chứng mất ngôn ngữ, một hậu quả của những chấn thương não bộ. Dù mọi thứ tôi nói ra chỉ là những mớ hồ ngôn loạn ngữ, nhưng mẹ tôi đã cố hết sức để thuyết phục tôi rằng bà hiểu được hết. Có điều tôi không ngốc. Tôi biết trí nhớ của mình đang kém đi. Có những khoảnh khắc tồi tệ, khi tôi chỉ muốn rút cái máy duy trì sự sống ra. Tôi còn hỏi một nữ y tá xem cô ấy có làm giúp điều đó được không. Công việc của tôi, giấc mơ của tôi, mọi thứ đều xoay quanh ngôn ngữ, qua hội thoại và trao đổi. Không có nó, tôi chẳng còn động lực nào nữa.

Tôi được đưa trở lại phòng theo dõi, và sau khoảng một tuần, chứng mất ngôn ngữ cũng qua đi. Tôi lại nói được, và nhớ lại tên của mình – đủ 5 mẩu cả họ lẫn đệm. Nhưng tôi cũng bắt đầu nhận ra có những người nằm quanh mình không qua nổi giai đoạn theo dõi ấy, và những dáng hình ấy không ngừng nhắc nhở rằng tôi may mắn ra sao. Một tháng sau khi nhập viện, tôi được về nhà trong nỗi khao khát được hít thở không khí trong lành, và tắm nước nóng. Ngay lập tức, tôi trở lại những cuộc phỏng vấn và họp báo. Và chỉ sau đó vài tuần, tôi nhận được lịch trình quay “Game of Thrones” mùa thứ 2.

Bất chấp bệnh tật đang đe dọa tính mạng, Emilia Clarke vẫn tiếp tục tham gia đóng phim.

Tôi đã trở lại guồng quay cuộc sống, nhưng khi còn nằm viện, các bác sĩ đã lưu ý tôi rằng tôi vẫn còn một đoạn mạch phình nhỏ hơn ở phần não bên kia, và nó có thể vỡ ra bất cứ lúc. Nhưng họ cũng nói rằng nó khá nhỏ, và có khả năng nó sẽ ở yên đó, vô hại không thời hạn. Chỉ cần theo dõi cẩn thận và mọi chuyện sẽ ổn. Việc hồi sức cũng chẳng phải nhanh chóng. Tôi vẫn còn đau nhức, và chịu đựng tàn dư của thuốc mê. Tôi nói với các sếp ở hãng phim về tình trạng của mình, nhưng cũng bảo họ rằng tôi không muốn chuyện này lộ ra ngoài. Bộ phim đơn giản là vẫn phải tiếp tục.

Dường như ca phẫu thuật không có hiệu quả khi Emilia Clarke vẫn đối mặt liên tục với những triệu chứng bệnh.
Ngay từ trước khi season 2 khởi quay, tôi đã cảm thấy không yên tâm về bản thân. Tôi vẫn rất mê mụ, rất yếu ớt, đến mức đôi khi tôi cảm thấy ca phẫu thuật kia chẳng có tác dụng gì.

Ngay từ trước khi season 2 khởi quay, tôi đã cảm thấy không yên tâm về bản thân. Tôi vẫn rất mê mụ, rất yếu ớt, đến mức đôi khi tôi cảm thấy ca phẫu thuật kia chẳng có tác dụng gì. Trong chuyến đi quảng bá vòng quang Luân Đôn, tôi nhớ rõ cảm giác ngồi trước mặt đám đông nhưng chẳng biết chuyện gì đang xảy ra. Đôi khi tôi phải uống thuốc giảm đau trong khoảng nghỉ giữa những cuộc phỏng vấn. Tôi thất vọng bản thân ghê gớm, bởi vì, xin được nói thẳng, ấn tượng bề ngoài là thứ quan trọng nhất khi làm một diễn viên. Tôi đang ngồi đó, nắm trong tay một cơ hội ngàn vàng mà không ai có được, và tất cả những gì hiện ra trên mặt tôi là một vẻ ngơ ngác hoang mang.

Rồi cũng đến lúc quay season 2 ở Dubrovnik, Tây Ban Nha. Tôi không ngừng tự nhủ: “Mình không sao, mình đang ở độ tuổi khỏe nhất trong đời mà. Mình ổn cả”. Tôi lao đầu vào công việc. Nhưng sự thật là cuối ngày quay đầu tiên, tôi chỉ còn cách lết về khách sạn và đổ ập lên giường vì mệt. Tất nhiên, tôi luôn nỗ lực hết mình trước máy quay, nhưng bên trong thì tôi vô cùng chật vật. Season 2 là mùa tôi đóng tệ nhất. Tôi còn chẳng biết nhân vật của mình đang làm gì nữa.

Nữ diễn viên luôn nỗ lực hết mình trước máy quay, dù bên trong cơ thể vô cùng chật vật.
Ca phẫu thuật lần hai thất bại…

Năm 2013, sau khi quay xong season 3 “Game of Thrones”, tôi nhận được một vai diễn ở Broadway tận nước Mỹ. Đó là vai Holly Golightly. Khi diễn tập, mọi thứ đều tuyệt vời. Nhưng sau khi vở kịch ra mắt, chẳng mấy chốc mà chúng tôi hiểu ra nó sẽ không thành công. Nó chỉ được diễn trong vài tháng ngắn ngủi, rồi bị ngừng hẳn.

Các bác sĩ nói thẳng rằng cơ hội sống rất mong manh nếu họ không phẫu thuật lại ngay lập tức. Và lần này, họ cần tiếp cận não tôi bằng cách truyền thống, tức là mở hộp sọ ra.

Trong thời gian ở New York để tham gia vở kịch ấy, tôi tranh thủ đi chụp não, một việc mà giờ đây tôi phải làm định kì. Phần mạch phình ở nửa não kia của tôi đã lớn gấp đôi, và bác sĩ ở đó khuyên tôi nên “giải quyết nó ngay”. Tôi được bảo rằng ca phẫu thuật lần này sẽ đơn giản hơn, dễ dàng hơn lần trước. Tôi lại mặc bộ đồ bệnh nhân ở một bệnh viện khu Manhattan. Cha mẹ tôi đã có mặt. “Gặp con sau 2 giờ nữa nhé”, mẹ tôi nói trước khi tôi được đưa vào phòng mổ. Chỉ là luồn thêm một ống dẫn nữa vào não tôi thôi, ổn cả mà.

Nhưng rốt cuộc thì chẳng ổn chút nào. Khi họ đánh thức tôi dậy, tôi lập tức gào thét vì đau. Ca phẫu thuật đã thất bại, và tôi bị xuất huyết rất nghiêm trọng. Các bác sĩ nói thẳng rằng cơ hội sống rất mong manh nếu họ không phẫu thuật lại ngay lập tức. Và lần này, họ cần tiếp cận não tôi bằng cách truyền thống, tức là mở hộp sọ ra.

Ca phẫu thuật lần hai bị thất bại khiến Emilia Clarke phải đối mặt với những khoảnh khắc sinh tử.

Quá trình phục hồi sau lần đó còn đau đớn hơn nhiều so với lần đầu tiên. Nhìn tôi khi ấy, bạn sẽ có cảm giác tôi đã trải qua những thứ khiến khó khăn của Daenerys trên phim nhìn như trò trẻ con. Khi được đưa ra khỏi phòng phẫu thuật, tôi vẫn có một ống dẫn nối từ đầu ra. Một phần xương sọ tôi đã được thay bằng titan. Hiện giờ thì không còn nhìn thấy vết sẹo kéo dài từ đỉnh đầu tới tai nữa. Quan trọng nhất là, tôi tiếp tục lo sợ về khả năng mất ý thức hoặc cảm giác. Tôi sẽ bị giảm tập trung, giảm trí nhớ, hay giảm thị lực? Giờ đây, tôi hay đùa rằng ca phẫu thuật ấy khiến tôi đánh mất gu thẩm mĩ về bạn trai. Thật vui vì tôi có thể nhìn lại quãng thời gian đó và cười lớn, dù thực sự là nó chẳng vui vẻ gì hết.

Emilia Clarke luôn lo sợ bản thân sẽ bị giảm tập trung, giảm trí nhớ, hay giảm thị lực.

Ở lần phẫu thuật đầu tiên, tôi từng cảm thấy mình đã chạm tới đáy của mọi thứ tồi tệ. Thì ra, chúng vẫn chẳng thấm vào đâu so với sự suy sụp sau ca phẫu thuật thứ hai. Tất cả trở nên đen tối, tiêu cực hơn cả nghìn lần. Và tệ nhất là, tin tức về bệnh tình của tôi đã ít nhiều truyền ra ngoài. Tạp chí National Enquirer đã viết một bài báo về tôi, 6 tuần sau ca phẫu thuật. Nhưng cũng chỉ dừng ở đó. Có lần phóng viên hỏi tôi về chuyện sức khỏe, và tôi phủ định mọi thứ…

Vượt lên tất cả mọi thứ, cô nàng vẫn cháy hết mình với đam mê diễn xuất và với những hoạt động từ thiện.

…cho tới tận ngày hôm nay. Trong quãng thời gian từ ca phẫu thuật thứ hai tới hiện tại, tôi đã hồi phục vượt quá mọi kỳ vọng của bản thân. Giờ đây, tôi đã trở lại là 100% con người mình. Nhưng tôi biết chắc chắn mình không phải người duy nhất. Vô vàn người đã gặp hoàn cảnh tồi tệ hơn nhiều, và hoàn toàn thiếu thốn những sự ủng hộ, chăm sóc tận tình mà tôi đã may mắn nhận được.

Ngoài công việc diễn xuất, tôi quyết định dấn thân vào từ thiện. Một tổ chức do chính tôi sáng lập cùng các cộng sự ở cả Mỹ và Anh vừa chính thức ra đời. Nó có tên SameYou (Bạn Cũng Thế), và có mục tiêu giúp đỡ điều trị cho những người bị chấn thương não hoặc tai biến. Mỗi ngày trôi qua, tôi đều cảm thấy biết ơn mẹ, anh trai, những bác sĩ, y tá và bạn bè tôi. Và mỗi ngày trôi qua, tôi đều nhớ về cha tôi, người đã qua đời năm 2016 vì ung thư, nhưng vẫn ở bên cạnh nắm tay tôi tới cùng.

Tôi không thể bày tỏ hết sự tự hào và may mắn khi mình đã hoàn thành chặng đường mang tên “Game of Thrones”. Thật hạnh phúc khi được chứng kiến cái kết của nó, và chứng kiến sự khởi đầu của những chuyến phiêu lưu tiếp theo.

Kanye West: Thiên tài hay “gã khùng”?

Bài viết nổi bật

“Đã có ai kiện tôi chưa?”

Rob Sheffield, cây viết âm nhạc nổi tiếng của Rolling Stone, sau khi xem MV “Famous”, chỉ đặt một câu hỏi nhỏ: “Chắc West phải bỏ không ít kinh phí cho sản phẩm này?”. Bởi giống như rất nhiều người khác và có lẽ cả chính West, ông hiểu rằng những gì gã rapper này nhận lại sau khi sản phẩm ra mắt sẽ chỉ là phản ứng tiêu cực từ những người được anh “tạc tượng sáp” và mời lên giường với mình trong tình trạng trần truồng.  

Trò khiêu khích cả thế giới của West không mới nhưng tới “Famous” nói riêng và album “The life of Pablo” nói chung, mọi thứ được nâng lên tầm cao mới. Cộng hưởng cùng sự lên tiếng “nhiệt tình” của cô vợ thị phi Kim Kardashian, dường như chưa bao giờ dư luận, đồng nghiệp cũng như những người xung quanh ghét gia đình ngôi sao này đến thế! Bởi rõ ràng West không tỏ ra ngại ngùng về phản ứng của dư luận trước bất cứ hành động hay phát ngôn đáng ghét nào của mình. Thậm chí sau khi MV “Famous” được công bố, anh còn viết trên Twitter: “Đã có ai kiện tôi chưa? Tôi đang chờ đây!”. Chưa thấy ai kiện mà chắc cũng sẽ không có vụ kiện nào. Bởi người “khổ sở” với Kanye nhất chính là Taylor Swift. Và cô ấy thì đã quá chán ngán với một ngôi sao quả tạ cứ cố ý nhằm mình mà chiếu vào!

Những trò lố của vợ chồng Kanye đang khiến dư luận và công chúng “quên” đi album “Life of Pablo”. Bằng chứng là, dù đã đứng vị trí số 1 trên Billboard ngay khi ra mắt nhưng chỉ vài ngày sau, khi thử tìm kiếm trên Google sẽ thấy những thông tin về Kanye West chủ yếu liên quan đến chuyện anh gây hấn với các nhân vật nổi tiếng trong MV, chuyện hai vợ chồng bị chửi bới ra sao hay người ta ra giá cho cuộn băng sex của họ bao nhiêu tiền… Những bài bình luận hay đánh giá đĩa nhạc dường như rất ít, mặc dù mọi đánh giá của các tạp chí uy tín đều đề cao tác phẩm này. Hay nói như Rob Sheffied: “‘Life of Pablo’ tiếp tục là một siêu phẩm của Kanye West như 6 album trước của anh ấy”.

Lắm tài, nhiều tật

Trở lại thời điểm năm 2011, khi Kanye West và Jay-Z hợp tác ra mắt album “Watch the throne”, người ta gọi đó là cái bắt tay lịch sử của hai ông vua. Một nước không thể có hai vua nhưng với “Watch throne”, giới hip hop đã thừa nhận họ có cùng lúc hai vị vua. Hai người đó không giống nhau nhưng sức ảnh hưởng của họ lại ngang nhau. Nếu Jay-Z là người đứng sau thành công của rất nhiều nghệ sĩ, thì Kanye West lại được thừa nhận như một con người tài năng và truyền cảm hứng mạnh mẽ, thay đổi quan niệm về hip hop.

Hãy nhớ rằng Kanye không chỉ biết rap, anh còn được nhìn nhận ở vai trò một nhà sản xuất, nhạc sĩ sáng tác. Ngay những album đầu tiên trong sự nghiệp, anh đã khẳng định tên tuổi với khán giả và càng về sau, tính chất thử nghiệm, phá cách và sáng tạo trong âm nhạc của Kanye càng đậm nét. Không thể phủ nhận “My Beautiful Dark Twisted Fantasy” (2010) hay “Yeezus” (2013) là những tác phẩm xuất sắc nhưng rất thách thức khán giả đại chúng. Nhà sản xuất Rick Rubin, người từng tham gia vai trò đầu tư trong album “Yeezus” nhận định: “Anh ta thay đổi quan niệm của giới chuyên môn cũng như người nghe về hip hop. Kanye tạo ra những khái niệm mới về thể loại âm nhạc này. Có thể gọi thứ mà Kanye tạo ra là một phân nhánh cấp tiến (progressive) của hip hop”.

Như đã nói ở trên, “Life of Pablo” cũng được đánh giá rất cao. Đây là một album rất cá nhân, giống như những mảnh vỡ tâm hồn của Kanye vung vãi trong đĩa nhạc. Ngoài một “Famous” rất “gây hấn” thì “30 Hours”, “Wolves” hay “FML” là những track ấn tượng. Nhiều người cho rằng đĩa nhạc này là một gợi ý nhất định về con người Kanye West – nghịch lý của tài năng và hình tượng xã hội ở anh.

Bên trong tư tưởng âm nhạc của người đàn ông này là những bức xúc nhằng nhịt về tình cảm, quan niệm nghệ thuật, hay cả những vấn đề xã hội, chính trị. Âm nhạc là kênh để Kanye bộc lộ những bức xúc đó của anh. Người ta thấy một tuổi thơ u uất, người ta thấy sự căm ghét của anh với chính những gì mà Kanye thường bị đánh giá, là kệch cỡm, “rẻ tiền”. “Thế giới có thể từ chối tôi vì tôi cũng chưa từng chờ đợi gì ở thế giới. Nhưng tôi vẫn sống và ‘chiến đấu’ cho niềm tin của mình”, Kanye từng tâm sự trong một bài phỏng vấn. Niềm tin đó là gì? Có lẽ nó là đức tin thì đúng hơn. Ảnh hưởng từ mẹ, Kanye rất sùng đạo. Anh cũng thường đưa những quan niệm về Chúa trời vào âm nhạc của mình.

Gia đình “thị phi” Kanye và Kim cùng con gái

Nhưng nếu như những tư tưởng trong âm nhạc của gã rapper 39 tuổi khiến người nghe phải suy ngẫm và bị anh mê hoặc thì hình ảnh bên ngoài âm nhạc của anh lại quá tiêu cực, thậm chí lố bịch như chính những gì anh căm ghét. Rõ ràng, Kanye càng gây sự với Taylor Swift, người ta càng thấy anh lố bịch bởi cô gái kia chẳng hề đụng chạm gì tới anh. Và tới những con người được cả thế giới kính nể như ông Obama, cũng là một người da màu giống Kanye, cũng không thể chịu nổi anh.

Cực kỳ giỏi và cực kỳ lố bịch, đó là Kanye West. Cái nghịch lý đó tạo nên một ngôi sao nổi bật của nước Mỹ. Và có lẽ chỉ nước Mỹ mới có thể tạo ra một Kanye West như vậy. Bởi với người Mỹ, ai thích âm nhạc của anh ta cứ hâm mộ anh ta và ai thấy anh ta “đáng ghét” thì cứ tha hồ tẩy chay, chửi bới. Truyền thông vẫn “ăn view” với những trò lố của Kanye West và cô vợ Kim. Còn chính Kanye, dường như thế gian chỉ là một sân chơi, nơi anh tha hồ quậy phá mà chả cần đếm xỉa mọi người thích hay không.

 
Bài: Độc Cầm

logo

Ngôi sao đầu tiên của thế hệ 10X Billie Eilish: thu âm trong phòng ngủ, thích hát về quái vật

Bài viết nổi bật

Trước ngày phát hành album đầu tay, cô ca sĩ sinh năm 2001 này đang được rất nhiều nhân vật kỳ cựu đánh giá là siêu sao mới của làng nhạc US/UK.

Xuất phát điểm đi ngược với số đông 

Khám phá Billie Eilish
Chủ đề âm nhạc của Billie Eilish phản ánh rất rõ thực trạng của giới trẻ ngày nay.

Sinh vào cuối năm 2001, tức là hiện nay mới chưa đầy 17 tuổi, song cô gái trẻ Billie Eilish đã gặt hái được những thành tích khiến nhiều ngôi sao lớn ngả mũ kính phục. Những bài hát được cô sáng tác tại nhà riêng cùng anh trai đã thu hút hơn 1 tỷ lượt nghe trực tuyến, cô từng biểu diễn tại những concert âm nhạc chật kín chỗ, xuất hiện trên các talkshow nổi tiếng, và sở hữu 15 triệu lượt theo dõi trên mạng xã hội Instagram.

Trong số các fan hùng hậu của cô nàng, không ít người đã nhanh nhảu học theo hình ảnh của thần tượng: từ cặp mắt lờ đờ khó gần, mái tóc nhuộm sáng màu tới những trang phục rộng thùng thình. Mọi thứ về Billie Eilish đều đi ngược lại xu hướng với những ngôi sao pop lung linh trước nay. Thậm chí, khi đón tiếp phóng viên tới phỏng vấn ngay trong phòng bếp ngôi nhà của mình, cô nàng cũng trưng ra bàn tay đeo đầy nhẫn hầm hố. Mỗi câu nói của Billie cũng đều tràn ngập những từ lóng hiện hành nhất ngày nay như một đoạn caption mạng xã hội đích thực.

Khám phá Billie Eilish
Năm 2016, bài hát “Ocean Eyes” của cô trở nên đình đám thu hút hàng chục triệu lượt nghe trực tuyến

Nếu như các ca sĩ thông thường luôn nhanh chóng được hãng đĩa quan tâm, lăng xê nhiệt tình sau bản hit đầu tiên, thì Billie lại hoàn toàn ngược lại. Nếu như năm 2016, bài hát “Ocean Eyes” của cô trở nên đình đám thu hút hàng chục triệu lượt nghe trực tuyến, thì mãi tới đầu năm nay, album hoàn chỉnh đầu tiên của Billie mới chính thức được phát hành. Với cái tên đầy tâm trạng “When We All Fall Asleep, Where Do We Go?” (Tạm dịch: Sau Khi Say Giấc Nồng, Chúng Ta Đi Về Đâu?) đã dường như nắm chắc ngôi vị quán quân tại Mỹ, củng cố thêm vị trí của Billie Eilish với tư cách ngôi sao âm nhạc đầu tiên thuộc thế hệ Z, thế hệ bị chi phối mạnh mẽ bởi cuộc cách mạng 4.0.

Dù hình tượng và phong cách của Billie Eilish vẫn đang khiến người ngoài cuộc phải nhíu mày, nhưng với những sản phẩm âm nhạc trong “When We All Fall Asleep, Where Do We Go?”, cô đã nhận được cơn mưa lời khen từ những nhân vật gạo cội của làng nhạc. Dave Grohl, tay trống của ban nhạc Grunge huyền thoại Nivarna đình đám những năm 90 không ngần ngại so sánh Billie với chính nhóm của mình. Anh biết đến âm nhạc của Billie thông qua con gái, và lập tức thốt lên “Sự trỗi dậy của cô bé rất giống với làn sóng Nivarna tạo ra vào đầu thập niên 90”. Chưa hết, Timbaland – phù thủy tạo hit cho rất nhiều ca sĩ nổi tiếng cũng ưu ái tuyên bố rằng: “Làng nhạc phương Tây trong cả năm nay và năm sau sẽ đều do Billie Eilish dẫn đầu”.

Nghệ thuật và sáng tác luôn là ưu tiên số một, không phải danh tiếng hay tiền tài

Được đánh giá là một trong những nghệ sĩ trẻ hiếm hoi thực sự dùng cảm xúc để viết nên tác phẩm, bên cạnh Lorde, Lana Del Rey, Halsey,… Billie Eilish cho biết cô luôn cố gắng làm chủ nghệ thuật của mình nhiều nhất có thể. “Sẽ rất dễ dàng nếu tôi tìm một ai đó phối đồ, cắt ghép bài hát , điều hành trang mạng xã hội cho tôi. Nhưng không, tôi tự mình làm tất cả những điều đó. Tôi không phải kiểu người để ép vào khuôn mẫu, tôi không phải kiểu nghệ sĩ như thế. Tôi muốn vươn lên bằng chính con người thật của mình” – Billie chia sẻ.

Khám phá Billie Eilish
Hình ảnh và âm nhạc của Billie Eilish gây tranh cãi hơn bất cứ ngôi sao teen nào bởi chất ma mị, ám ảnh.

Xuất thân từ một gia đình có tư tưởng rất phóng khoáng, Billie và anh trai được cha mẹ thôi thúc tập viết nhạc từ bé, sử dụng những giai điệu bất hủ của The Beatles làm thứ đưa đường. Hai anh em được giáo dục tại nhà, không bị ép phải lên đại học, và có thể toàn tâm toàn ý theo đuổi giấc mơ âm nhạc nếu thích. Và quả thực, suốt những năm đầu sự nghiệp, hầu hết các ca khúc của Billie đều được thu âm trong chính phòng ngủ của cô, với người anh trai 21 tuổi Finneas đóng vai trò chơi nhạc cụ.

Theo như tiết lộ của Billie, ban đầu cô chỉ có hứng thú với âm nhạc, chứ không thực sự đam mê. Chính anh trai cô mới là người luôn muốn theo đuổi con đường nghệ thuật. Và khi anh nhờ Billie – khi đó mới 13 tuổi – góp giọng trong ca khúc có tên “Ocean Eyes”, cuộc đời họ đã thay đổi mãi mãi. Bản thu âm được đăng tải lên trang Soundcloud đã thu hút vô vàn lượt nghe và bình luận, thậm chí được phối lại thành nhiều phiên bản thuộc mọi thể loại.

Chỉ vài tháng sau đó, Billie đã nắm trong tay hợp đồng với Darkroom, công ty quản lý tài năng do chính siêu sao nhạc Pop Justin Bieber sở hữu. John Janick – chủ tịch hãng đĩa Interscope, công ty mẹ của Darkroom cho biết: “Phong cách của Billie, suy nghĩ, cách nói năng, mọi thứ của cô bé đều cực kỳ khác biệt. Cô bé có quan điểm rất chín chắn, dù chỉ mới 14 tuổi. Đối với tôi, Billie đại diện cho một thế hệ âm nhạc mới, hoàn toàn tách biệt khỏi những ngôi sao nữ đang nổi như Selena Gomez và Camilla Cabello”.

Album đầu tay: ma mị, nổi loạn và đầy tâm sự

Khám phá Billie Eilish
Nữ ca sĩ không thể tránh khỏi sự nổi tiếng chuẩn bị đeo bám cuộc sống của mình.

Xuyên suốt những năm đầu đi lên sau “Ocean Eyes”, Billie Eilish luôn trung thành với phong cách âm nhạc mộc mạc, gần giống nhạc indie, với những chủ đề kỳ lạ, đen tối, đáng sợ như giết người hàng loạt, sự đàn áp, quái vật trốn dưới gầm giường,… Album sắp ra mắt của cô cũng không khác biệt, với những nhịp điệu nặng, đổi phách bất ngờ cùng hiệu ứng âm thanh ghê rợn, hoàn toàn phù hợp với phong cách nổi loạn của cô nàng trên mạng xã hội suốt thời gian qua. Không ít lần, những người không hay biết về Billie Eilish vẫn phải dừng lại ngạc nhiên khi bắt gặp tên những bài hát của cô trên mạng: “bury a friend” (Chôn một người bạn), “wish you were gay” (Ước gì anh đồng tính),…

Bên cạnh danh tiếng ngày càng lên cao, Billie Eilish cũng đang buộc phải đối mặt với một “cơn ác mộng” khác: trở thành tấm gương cho vô vàn bạn trẻ thuộc thế hệ 10X như mình. Trong những năm đầu sự nghiệp, Billie cùng công ty quản lý đã cố hết sức giữ cho cô tránh xa búa rìu dư luận, cũng như những ý kiến ác ôn của cư dân mạng. Tuy nhiên, album mới càng nổi đình nổi đám, Billie Eilish càng khó né tránh hào quang cũng những thị phi lâu hơn được nữa.

Khám phá Billie Eilish

Khi tôi viết ca khúc ‘wish you were gay’, nó hoàn toàn là về một cậu bạn tôi mê như điếu đổ, nhưng không thích lại tôi. Nhiều lúc tôi đã ước cậu ta là gay (đồng tính nam), như thế dù cậu ấy không thích tôi, thì cũng không phải vì bản thân tôi kém cỏi. Tôi những tưởng bài hát đã thể hiện rất rõ điều đó, nhưng vẫn có những người công kích tôi vì đem chuyện xu hướng tính dục làm trò đùa” – Billie than thở về một sự cố liên quan tới bài hát gần đây.

Dù âm nhạc, phong cách của cô có khác biệt, bất cần đời thế nào đi nữa, Billie Eilish nhận định cô vẫn đang đứng trước cùng một con đường với những nghệ sĩ Pop hào nhoáng tiền nhiệm. Billie chia sẻ, cô đang tìm cách tận hưởng nốt những tháng ngày yên bình cuối cùng của tuổi thiếu niên, trước khi sự nghiệp đưa cuộc sống của cô tới một tầm cao mới.

Trước đây, dù các bài hát có nổi tiếng thế nào, thì tôi vẫn tự do đi khắp mọi nơi mà không mấy ai nhận ra. Nhiều khi tôi không hề cảm thấy rằng mình nổi tiếng. Nhưng sắp tới, mọi chuyện sẽ khác đi rất nhiều. Mới đây thôi, trên quãng đường ngắn về nhà, tôi bị nhận ra những 4 lần, và chắc chắn đó không phải con số cuối. Nhưng không còn lựa chọn nào khác. Tôi phải tiếp tục bước tới thôi”.

Bài: Tuấn Vũ