Lion King 2019: Lời nói dối tước đi vị thế của sư tử cái

Giải Trí

Một số nhà phê bình điện ảnh đã nhận xét phiên bản làm lại của siêu phẩm tuổi thơ “The Lion King” (tựa tiếng Việt: “Vua sư tử”) – tác phẩm tái hiện lại vương quốc động vật với công nghệ CGI – thiếu tính lôi cuốn và biểu cảm so với phiên bản hoạt hình gốc.

lion king
Nala (Beyoncé) và Simba (Donald Glover) trưởng thành trong “The Lion King” bản live-action.

Còn các nhà động vật học và giới chuyên nghiên cứu sư tử nhận định thương hiệu Disney đã bỏ lỡ một điều quan trọng hơn tất cả: tính chính xác của khoa học. Một nhà nghiên cứu từ Trung tâm Nghiên cứu Sư tử tại Đại học Minnesota cho biết, nếu câu chuyện trong “The Lion King” miêu tả chính xác cộng đồng đại miêu (những loài động vật trong chi báo thuộc họ nhà mèo), vương quốc sẽ thuộc về Sarabi (mẹ của Simba) thay vì Mufasa. Tuy nhiên, đa số khán giả thậm chí còn không nhớ tên của Sarabi vì thời lượng cô xuất hiện quá ít.

Craig Packer, chuyên gia sư tử hàng đầu nói trên kênh National Geographic: “Trên thực tế, con cái là cốt lõi, là trái tim và tâm hồn của cả đàn. Những con đực chỉ đến và đi”.

Nếu nghiên cứu sâu hơn về loài sư tử, hãng Disney sẽ biết rằng sư tử thực chất là loài mẫu hệ. Ở đó, con cái sẽ dẫn dắt con đực và các con sư tử đực riêng lẻ khó có thể gắn kết với nhau để tạo nên mối liên kết trong một gia đình. “Các con cái xác định lãnh thổ của chúng, chúng lớn lên ở đó và dành cả đời để lắng nghe tiếng gầm của những loài xung quanh“, ông Packer nói thêm. Theo ông, các con sư tử cái cũng tiếp tục chọn ra những sư tử cái khác trẻ hơn làm nhiệm vụ dẫn dắt đàn mới, khi đàn sư tử cũ trở nên quá đông đúc.

Ở chiều ngược lại, con đực trưởng thành sẽ rời khỏi đàn, tìm con cái ngoài đàn để giao phối sau khi được dạy cách chiến đấu và săn mồi. “Hãy tưởng tượng khi Simba trở lại và trở thành anh hùng của cả đàn, phần thưởng lớn nhất dành cho anh ấy là cưới Nala. Nhưng Nala thực chất là em gái Simba“, Packer nói thêm, “Nếu Simba không rời khỏi đàn mình, anh ấy chỉ tiếp xúc với em gái mình, chị em họ, dì, mẹ hoặc bà của anh ấy“. Ông cho rằng mọi chuyện chỉ đúng tự nhiên nếu “Simba rời đi và không bao giờ quay trở lại”.

Đàn sư tử chủ yếu gồm các con cái, nên sư tử đực sống với mối đe dọa sẽ bị con đực từ đàn khác chiếm mất vị trí “price dad” (cha đầu đàn). Packer cho rằng Mufasa và Scar nên kết hợp thay vì cạnh tranh với nhau: “Bạn cần có một người đồng hành để chống lại những con đực muốn chiếm lấy gia đình và giết chết những đứa con của bạn. Đó là lý do sư tử thường di chuyển cùng 1 hoặc 2 con đực khác. Chúng cũng thường chỉ gắn bó với một đàn cho đến khi bị con đực khác chiếm ngôi vương“.

Trong khi đó, con cái cũng không mấy quan tâm đến cuộc chiến giữa các sư tử đực. Nypost tiếp tục dẫn lời của Packer: “Con cái thích những con đực dễ nhìn và có các yếu tố đảm bảo cho con của chúng sống sót và khỏe mạnh”.

lion king
Trên thực tế, sư tử có bờm đen được cho là khỏe mạnh hơn so với các con đực còn lại trong đàn.

Không những thế, Scar – bác của Simba, phản diện chính trong “The Lion King”, còn có khả năng giành ngai vàng cao hơn Mufasa. Bởi chiếc bờm đen là tín hiệu chỉ ra sự vượt trội về mặt di truyền. Sắc tối của chiếc bờm cho thấy tình trạng thể chất tốt, mức độ testosterone trong con đực cao hơn giúp tăng khả năng chịu đựng bệnh tật.

Cần phải hiểu rằng, tính chính xác về mặt khoa học, sinh học và động vật học có thể được bỏ qua trong phiên bản hoạt hình “Lion King” vào năm 1994. Nhưng khi đã được chuyển thể thành live-action với công nghệ máy tính tả thực ở trình độ cao, “Lion King” phiên bản 2019 lại mang đến cho người xem cảm giác đây là bộ phim về thế giới động vật. Hình ảnh những con sư tử, các loài sinh vật, thiên nhiên,… hiện lên chính xác đến từng sợi lông, giọt nước, chiếc lá.

Do đó, phiên bản làm lại từ bản hoạt hình là lời nói dối tước đi vị thế của sư tử cái, trái tim và linh hồn của một đàn sư tử.

Bài: : Phương Thảo

18/07/2019, 07:00

Walt Disney tham vọng làm sống lại huyền thoại “The Lion King”

Giải Trí

Một cảnh trong phim ‘The Lion King”

Tuyên bố ngày 28/9 của Walt Disney xác nhận dự án hợp tác mới với đạo diễn Jon Favreau và cho biết bộ phim đang bước vào công đoạn sản xuất.

Đây sẽ là dự án mới nhất trong chiến lược của Walt Disney về xây dựng phiên bản đời thực của các tác phẩm hoạt hình kinh điển, đưa những tác phẩm này đến gần hơn với khán giả hiện đại, sau thành công của những cái tên như “Maleficent” (Tiên Hắc Ám), “Cinderella” (Cô bé Lọ lem) và “The Jungle Book.

Dự án này được kỳ vọng sẽ tiếp nối thành công của siêu phẩm được đánh giá là đột phá về công nghệ “The Jungle Book” ra mắt hồi tháng 4 và thu về 965,8 triệu USD toàn cầu.

Bên cạnh “The Lion King,” Walt Disney cũng đang hợp tác với đạo diễn Favreau để thực hiện phần 2 của “The Jungle Book.”



Cảnh trong phim
The Jungle Book”

Phát hành năm 1994, “The Lion King” trở thành một trong những tác phẩm hoạt hình thành công nhất mọi thời đại với doanh thu xấp xỉ 1 tỷ USD.

Bộ phim đã đoạt tượng vàng Oscar cho Ca khúc chủ đề xuất sắc nhất cho bài hát “Can You Feel the Love Tonight” của Elton John và Tim Rice và Nhạc phim xuất sắc nhất cho nhà soạn nhạc Hans Zimmer.

Album nhạc phim bán được hơn 14 triệu bản và giành về 2 giải Grammy. Phiên bản kịch của bộ phim ra mắt năm 1997 trên sân khấu Broadway cũng đoạt 6 giải Tony – giải thưởng danh giá của làng kịch Mỹ.

Với 23 phiên bản toàn cầu ở 8 thứ tiếng, câu chuyện của “The Lion King” ước tính đã đến với hơn 85 triệu khán giả. Doanh thu của thương hiệu này vượt xa mọi tác phẩm phim, kịch Broadway hay các sản phẩm giải trí khác trong lịch sử.

Phiên bản đời thực của “The Lion King” hiện chưa có ngày công chiếu chính thức. Được biết, bộ phim sẽ giữ lại phần nhạc phim kinh điển đã góp phần làm nên tên tuổi của tác phẩm này.

Theo VietnamPlus

Âm nhạc trong phim: Cuộc hôn phối bất khả từ

Giải Trí

Có lẽ Zimmer hơi quá lời khi quên rằng điện ảnh thuở khai sinh hoàn toàn… im lặng. Chẳng có âm thanh nào vang lên và chẳng có câu thổ lộ nào được nghe thành tiếng. Nhưng chuyện ấy kéo dài không lâu. Rồi người ta cũng nhận ra rằng âm thanh đóng vai trò dẫn chuyện, dẫn cảm xúc cho người nghe, thế nên trước khi phim câm nói được thì người ta lồng nhạc cho nó trước. Người ta lồng bằng cách cho cả một dàn nhạc sống đánh trực tiếp, hình ảnh mà bây giờ chỉ còn thấy lại trong các chương trình biểu diễn… xiếc. Đó là vào năm 1926 khi Warner Bros sáng chế ra kiểu nhạc trong phim một cách sơ khai nhất. Nhưng chỉ hơn một thập niên sau, năm 1940, nhạc phim (tính cả nhạc nền, nhạc dạo đầu hay ca khúc trong phim) đã trở thành một yếu tố không thể thiếu trong một tác phẩm điện ảnh, như thể trở thành một cuộc đời thứ hai song hành cùng cốt truyện, thậm chí còn quyết định sự thành bại của một bộ phim.

Cuộc hôn phối ngọt ngào…

Hans Zimmer vốn chỉ là một chú bé con trước khi trở thành người khổng lồ của giới sáng tác nhạc phim. Năm 12 tuổi, khi lần đầu tiên được nghe nhạc nền bộ Once Upon a Time in the West của Ennio Morricone thì ông đã thấy được con đường của mình. “Tôi thật sự không nhớ mình đã mong muốn trở thành ai khi còn bé nhưng khi xem bộ phim ấy và bị những giai điệu của Morricone xâm chiếm thì tôi biết cuộc đời mình đã tìm thấy ánh sáng, ánh sáng hắt ra từ màn bạc với những giai điệu xâm chiếm lấy tâm trạng”.

 

Hans Zimmer, tác giả nhạc nền của không dưới 100 bộ phim điện ảnh nổi tiếng

Đạo diễn trứ danh Alfred Hitchcock bảo rằng: nếu không có âm nhạc thì tính kinh dị trong những tác phẩm điện ảnh của ông gần như vô nghĩa. Và ông nhấn mạnh rằng đạo diễn và nhạc sĩ phải là một ê-kíp ăn khớp nhau, cho nên rất nhiều bộ phim của Hitchcok chỉ thấy lấp lánh mỗi cái tên của người làm ra nhạc phim, Bernard Herman. William Wyler, đạo diễn của phim huyền thoại Ben-Hur khẳng định âm nhạc trong phim quyết định sự thành bại của một bộ phim, “nó giống như một cuộc hôn phối mà cả hai đều phải đến với nhau từ tình yêu, bởi nếu không đó sẽ là một cuộc hôn nhân gượng ép và nhanh chóng tan ra”.

Nhạc phim Ben-Hur được viết bởi nhạc sĩ Miklós Rózsa và ông đã mất rất nhiều tháng để nghiên cứu kịch bản và sáng tác. Rózsa đã tiến hành nghiên cứu âm nhạc Hy Lạp và La Mã đương thời để mang lại cho nhạc phim của mình một âm thanh cổ xưa trong khi vẫn là âm nhạc hiện đại. Ông cũng tự mình chỉ huy dàn nhạc giao hưởng 100 người của hãng MGM trong 12 buổi thu âm để làm sao phải đẩy được tính hùng vĩ của nó nhằm đánh thẳng vào lòng người xem một cảm giác bị choáng ngợp. Và cuối cùng, Rózsa đã đoạt giải Oscar cho Nhạc phim hay nhất.

Âm nhạc trong phim không đơn thuần chỉ là những ca khúc được hát lên bởi nó được hình thành từ 3 yếu tố: Overture/Intermission/Entr’acte (nhạc dạo đầu); Nhạc nền (Theme), nhạc phim (score); và Ca khúc trong phim. 3 yếu tố này sẽ hòa trộn vào nhau để tạo nên một tổng thể xuyên suốt. Trong 3  yếu tố ấy thì nhạc nền đóng vai trò quan trọng nhất bởi âm nhạc được xây dựng từ đường dây kịch bản, khi các nhà soạn nhạc nắm bắt ý tưởng nghệ thuật của đạo diễn, bám sát nội dung, chủ đề, cảm xúc chính của phim. Nhạc nền thu hẹp khoảng cách giữa khán giả và phim. Nhờ bổ sung chất liệu âm nhạc, đời sống nhân vật nói chung và trạng thái cảm xúc nói riêng trở nên sống động hơn, sâu hơn, hiện thực hơn. Do vậy, lực dính giữa phim và khán giả sẽ tăng lên nhanh chóng.

Nhạc phim Ben-Hur

“Rạp chiếu bóng Paradiso” là một phim tình cảm để lại nhiều cảm xúc trong khán giả. Thử tưởng tượng cảnh chàng trai Salvatore đợi chờ cô gái trong mưa, cảnh hai người dạo chơi trên cánh đồng, hôn nhau trong mưa sẽ nhạt, khô cứng ra sao nếu thiếu những giai điệu mê hồn của nhà soạn nhạc Ennio Morricone? Thử tưởng tượng cảnh bố già Cleone qua đời mà lại thiếu đi cả một dàn violin bè chậm trên nền nhạc Speak Softly Love day dứt của Nino Rota. Giai điệu buồn man mác này cũng làm nhớ lại cảnh chiến sĩ tình báo Nguyễn Thành Luân đi bộ trong rừng cao su khi suy nghĩ về con đường hành động của mình. Nhạc sĩ Y Vân đã cho cả một dàn dây bè theo tâm trạng của Thành Luân và làm rất nhiều người xúc động theo bộ phim “Ván bài lật ngửa”.

… nhưng không dễ dàng

Nhạc sĩ Hans Zimmer cho rằng trong một cuộc sống hiện đại như ngày nay thì viết nhạc phim là chuyện không dễ ăn như nhiều thập niên trước. Ngoài tính giai điệu, các bộ phim ngày nay đòi hỏi rất lớn ở yếu tố kỹ thuật phối và hòa âm. Zimmer không phải là người lạ, ông nằm trong Top 100 Thiên tài đương đại theo bình chọn của tờ The Daily Telegraph. Ông là tác giả nhạc nền của không dưới 100 bộ phim điện ảnh nổi tiếng: Rainman, The Lion King, The Gladiator, Angels And Demons, Pirates of the Carribean, The Dark Knight… và gần đây nhất là tác phẩm viễn tưởng táo bạo Inception. Sở hữu 4 giải Grammy, 1 tượng vàng Oscar cùng 7 đề cử Academy Award khác, tài năng của Zimmer được công nhận không chỉ trong phạm vi các tác phẩm điện ảnh có sự đóng góp của ông  mà còn có ảnh hưởng không nhỏ trong việc thiết lập một hình mẫu sáng tạo gợi nhiều cảm hứng cho lớp nghệ sĩ kế cận, cả trong lĩnh vực âm nhạc và điện ảnh. Chú trọng nhiều đến sự biến ảo đa dạng của cây synthersizer, chính sự kết hợp tinh tế các âm thanh electronic với dàn nhạc cổ điển truyền thống đã tạo nên dấu ấn của Zimmer trong các siêu phẩm hành động hoành tráng và giúp ông trở thành người đứng đầu phụ trách mảng âm nhạc cho hãng DreamWorks.

Zimmer cho rằng điều quan trọng là người sáng tác phải đồng cảm với đạo diễn, biết ông ta cần gì, mong gì, điểm nhấn chỗ nào để từ đó khai thác. “Bạn đừng nghĩ rằng tôi phải trở thành Hans Zimmer hay John Williams hay Ennio Morricane. Bạn phải trở thành chính bạn và biết sử dụng âm nhạc của mình cho từng cử chỉ của bộ phim. Tôi tin chắc rằng nếu ngôn ngữ âm nhạc của bạn mà ý nghĩa thì lời thoại trong phim sẽ ngắn hẳn đi”.

Nhạc trong phim ngày càng hiện đại hơn nhưng không có nghĩa là nó xóa mờ được những giá trị ngày xưa. Đến bây giờ hầu như vẫn chưa ai qua được những nhà soạn nhạc huyền thoại như Hans, Philip Glass, John Williams (Mỹ), Nino Rota, Ennio Morricane (Ý), Howard Shore (Canada), Vladimir Cosma (Rumania), Kitaro, Joe Hishaishi (Nhật Bản)… Người ta vẫn nhớ đến tượng đài Philip Glass, một trong những nhạc sĩ tiên phong với phong cách sáng tác đa dạng; từ các tác phẩm cổ điển dành cho dàn nhạc thấm đẫm chất tối giản, được dàn dựng trong các không gian hẹp với các yếu tố của nghệ thuật trình diễn và thị giác đến nhạc nền các bộ phim như The Thin Blue Line, The Truman Show, The Hours, Taking Lives hay Notes on a Scandal…

Nhạc trong phim ngày càng hiện đại hơn nhưng không có nghĩa là nó xóa mờ được những giá trị ngày xưa

Mọi biên giới sáng tạo đều là tương đối; âm nhạc và điện ảnh luôn tỏ ra sẵn sàng cho những thách thức và chinh phục mới. Nhạc nền – một ngành công nghiệp đang vận hành với sự chuẩn hóa, chuyên nghiệp ngày càng rõ nét nhưng vẫn không đánh mất tính hấp dẫn, màu mỡ trong sáng tạo đang và sẽ được nhắc đến như một chất xúc tác không thể thiếu và đang ngày một thăng hoa.

Bài: Nguyên Minh

(theo Sành điệu)

Những bộ phim khiến chúng ta nhận ra mỗi ông bố là một người hùng

Giải Trí

Đằng sau vẻ nghiêm nghị, khó tính và kiệm lời của cha là cả tấm lòng yêu thương con vô bờ mà không từ ngữ nào diễn tả được. Hình tượng các ông bố cũng được khai thác cực kỳ cảm động trên màn ảnh rộng. Hãy cùng Đẹp Online điểm qua những bộ phim về tình phụ tử mà bạn có thể xem đi xem lại nhiều lần mà vẫn không cảm thấy chán. 

“The Kid” (1921): bộ phim về tình cha con hay nhất của kỷ nguyên phim câm

Đây là tác phẩm điện ảnh đầu tiên của “vua hề” Charlie Chaplin – người đã khiến khán giả xúc động với câu chuyện nhân văn về một “gã lang thang” cố gắng bảo vệ đứa con nuôi khỏi trại trẻ mồ côi.

“The Kid” là một trong những bộ phim tuyệt vời của Charlie Chaplin

Charlie vào vai anh chàng lang thang “The Tramp” vụng về cố gắng xoay xở bằng mọi cách với mong muốn nuôi dạy đứa bé trở thành một người tử tế, biết cách tn ti trong xã hi khi không có gia đình. Những phân cảnh hành động phạm pháp của “vua hề Sác Lô” để kiếm thức ăn nuôi con mang lại tiếng cười cho khán giả, nhưng phần nào cũng cho thấy bi kịch của con người trong xã hội.

Bên cạnh những giây phút hài hước, “The Kid” còn chứa đựng nhiều khoảnh khắc xúc động. Dù không cùng huyết thống nhưng chính lòng yêu thương chân thành của hai nhân vật đã tăng thêm giá trị thông điệp của tác phẩm. Cũng giống như dòng chữ giới thiệu bộ phim mà chính Charlie gửi gắm: “Một bộ phim với một nụ cười và có lẽ, một giọt nước mắt”.

“Kramer vs Kramer” (1979): tình cảm cha con là điều thiêng liêng nhất

Ra mắt vào thập niên 1970, “Kramer vs. Kramer” là một bộ phim thách thức những định kiến bấy giờ về vai trò, vị trí của đàn ông và phụ nữ trong gia đình. Trước đây, nếu xảy ra một vụ ly di, chắc chắn, đứa con sẽ được mẹ chăm sóc, người cha chỉ có nhiệm vụ chu cấp mỗi tháng. Nhưng “Kramer vs. Kramer” thì khẳng định rằng: đàn ông cũng có thể chăm sóc cho con cái chu đáo chẳng thua gì phụ nữ.

Sức sống của “Kramer vs Kramer” mãi trường tồn vì những bài học về giá trị của tình cảm cha con, gia đình mà bộ phim mang lại

Chuyện phim kể về hành trình “học làm bố” của Ted Kramer (Dustin Hoffman), người đàn ông yêu công việc hơn gia đình. Bỗng một ngày, Joanna, vợ anh đột ngột đòi ly hôn. Cô để lại cậu con trai Billy 5 tuổi cho Ted chăm sóc.

Ted không phải là người cha lý tưởng. Anh vụng về trong mọi thứ: đánh rơi cả vỏ trứng vào bát, đi siêu thị nhưng không biết mua đồ gì hay thậm chí không nhớ nổi con trai mình đang học lớp mấy… Tuy nhiên, tình yêu dành cho con đã dạy anh cách trở thành một người cha thực thụ.  Anh bắt đầu biết dành thời gian trò chuyện, chia sẻ với con trai, dạy con tập xe đạp,… Sự tận tuỵ của một người cha đã khiến Ted bị sa thải. Nhưng anh cũng học được rằng, tình cảm cha con mới là thứ đáng giá, thiêng liêng nhất.

Bộ phim đã giành đến 5 giải Oscar 1980 ở những hạng mục quan trọng như đạo diễn, kịch bản chuyển thể, nam chính, nữ phụ và phim xuất sắc nhất.

Nhưng lúc Ted đã ổn định cuộc sống cùng Billy thì cũng là lúc Joanna, vợ cũ của anh quay về giành quyền giám hộ đứa bé. Như một bản năng của người bố, Ted vùng lên chiến đấu để được ở cạnh con trai.

“Big Fish” (2003): tình cha con được dệt lên từ những câu chuyện cổ tích

“Big Fish” là bộ phim về tình cha con được đạo diễn Tim Burton thực hiện sau khi cả cha và mẹ ông qua đời trước đó. Tác phẩm đạt doanh thu 122,9 triệu USD và nhận bốn đề cử Quả Cầu Vàng, đặc biệt là “Phim hài/nhạc kịch xuất sắc”. “Big Fish” được xem là một trong những tác phẩm thành công nhất của Tim Burton.

“Big Fish” là một câu chuyện giàu trí tưởng tượng dựa trên tình phụ tử

Nhân vật chính của bộ phim là cậu con trai William. Suốt tuổi thơ của mình, William đã được nghe người cha Edward Bloom kể về chuyến phiêu lưu thời trẻ vừa thực vừa ảo của ông. Trong những câu chuyện ấy luôn hiện hữu các nhân vật phi thường như người khổng lồ, phù thủy, người sói,…

Khi trưởng thành, Will không còn tin vào những lời kể ấy và cho rằng tất cả chỉ là bịa đặt. Mãi đến khi biết tin cha sắp qua đời, anh mới quyết tâm tìm hiểu sự thật đằng sau câu chuyện huyền bí ấy để rồi William bị cuốn vào chuyến du hành đặc sắc.

 

“Finding Nemo (2003): hãy yêu thương con cái đúng cách

Là một trong những phim hoạt hình kinh điển của hãng Disney, “Finding Nemo” là hành trình tuyệt vời, khắc họa tình cảm cha con đầy thiêng liêng.

Marlin chính là hình mẫu để các bậc phụ huynh có cái nhìn đúng đắn hơn về cách dạy con: chăm sóc con quá kỹ lưỡng khiến đứa trẻ dần trở nên tự ti, không thể bảo vệ nỗi chính mình.

Tận sâu dưới đáy đại dương là gia đình nhỏ của cá hề Nemo. Vì mồ côi mẹ từ nhỏ, nên Nemo luôn được bố Marlin yêu thương và hết mực chăm sóc. Chính vì nỗi sợ hãi trong lòng mà Marlin trở nên dè dặt, khô khan, bảo vệ Nemo tới mức cực đoan.

Và khi Nemo lạc đến bên kia của đại dương, Marlin đã quyết tâm lên đường tìm kiếm con trai dẫu không hề có bất kỳ manh mối nào. Những khoảnh khắc Marlin vùng vẫy chiến đấu với cá mập, hay cố gắng vượt qua đàn sứa độc đã để tìm Nemo khiến người xem không khỏi xúc động.

“Miracle In Cell No.7” (2013): bản giao hưởng nhẹ nhàng của tình cha con nơi phòng giam ảm đạm

Bộ phim từng lấy không ít nước mắt khán giả Hàn Quốc lẫn Việt Nam khi được ra mắt. Câu chuyện cảm động về người cha thiểu năng và cô con gái nhỏ tuổi nhưng thông minh nơi phòng giam mang đến cho người xem những khoảnh khắc hài hước pha lẫn nước mắt. “Miracle In Cell No.7” khiến chúng ta nhận ra rằng, dẫu trong bất kỳ hoàn cảnh nào các ông bố vẫn luôn bảo vệ những đứa con bằng mọi giá, kể cả có phải đánh đổi bằng chính sinh mạng của mình.

Bộ phim là một bài ca đẹp về tình người, tình phụ tử

“Train to Busan” (2016): vì con, cha có thể làm tất cả!

Seo Wook được mô tả là người đàn ông của công việc khi phần lớn thời gian chỉ để nghiên cứu làm sao hoàn thành chỉ tiêu của công ty thay vì chăm sóc gia đình nhỏ. Chính vì thế mà khoảng cách của anh và cô con gái nhỏ Su An ngày càng lớn. Để bù đắp cho con gái, Seo Wook đưa Su An về thăm mẹ ở Busan mà không hề biết rằng, chờ đón họ trên chuyến tàu ấy là binh đoàn zombie khát máu sẵn sàng tấn công bất kỳ ai mà chúng thấy.

Không chỉ là bộ phim Zombie đơn thuần, “Train to Busan” còn khắc hoạc rõ nét tình cảm cha con lúc sinh tử.

Thời khắc sinh tử đã kéo hai cho con lại gần nhau hơn và giúp Seo Wook hiểu ra rằng anh đã quá lãng phí thời gian cho tiền bạc, công việc mà bỏ rơi gia đình lẫn Su An. Đến cuối cùng để bù đắp cho sự vô tâm hời hợt trước đây, và trên hết là để con gái được sống một đời bình an, Seo Wook đã quyết định dùng sinh mạng đối đầu với zombie.

Disney ra tay “trừng trị” Netflix, tương lai điện ảnh đi về đâu?

Giải Trí

Rục rịch từ cuối năm 2018, Disney đã khiến dư luận xôn xao khi thông báo sẽ gia nhập thị trường chiếu phim trực tuyến, đối đầu trực tiếp với Hulu, Amazon và đặc biệt là Netflix.

Đứa con mới của nhà Chuột mang tên Disney+ sẽ sở hữu khối lượng nội dung cũ và mới khổng lồ được sản xuất bởi Disney, điển hình như dàn bom tấn thuộc MCU (Vũ trụ Điện ảnh Marvel), các bộ phim trong vũ trụ Star Wars, X-Men,… Những bộ phim tài liệu tiếng tăm từ kênh National Geographic cũng sẽ cập bến. Không chỉ dừng lại ở đó, Disney+ cũng sẽ đích thân đứng ra sản xuất phim riêng với một số dự án đầu tiên được công bố là “High School Musical: The Musical: The Series”, bản truyền hình của “Love, Simon”, “Noelle” với sự tham gia của Anna Kendrick hay Diary of a Female President”.

Disney+ và vị thế khủng của “con nhà giàu”

Toà lâu đài Disney vẫn sừng sững trong vương quốc điện ảnh.

Một đặc điểm nổi trội của Disney+ chính là mức giá dự tính được đưa ra quá rẻ so với các đối thủ cạnh tranh. Chỉ với $6.99/tháng, thành viên Disney+ sẽ được thưởng thức kho nội dung rộng lớn ở chất lượng cao, trong khi mức giá rẻ nhất của Netflix (không cho phép chất lượng HD) lại là $8.99/tháng. So sánh với một số đối thủ khác, Amazon Prime sẽ yêu cầu người dùng trả $199/năm (tặng kèm dịch vụ vận chuyển miễn phí hàng hóa) còn Hulu thì dao động từ $7.99 đến $11.99. Như vậy, có thể thấy mức giá của Disney+ đang thực sự rẻ đến báo động, thậm chí chỉ nhỉnh hơn giá một chiếc vé xem phim ngày cuối tuần tại Việt Nam một chút.

Disney đang rất lạc quan về kế hoạch đã đặt ra với Disney+, và giá cổ phiếu của công ty đang có chiều hướng tăng dần. Xét về khía cạnh đầu tư, việc “rót tiền” cho Disney đang là một bước đi thông minh với tỉ lệ rủi ro rất thấp. Trong một thông báo với các nhà đầu tư gần đây, Disney+ hé lộ kế hoạch để đạt được từ 60 đến 90 triệu người đăng ký khắp thế giới cho đến năm 2024. Đây là một con số khổng lồ nếu đem so sánh với con số 139 triệu người dùng Netflix sau bao nỗ lực của công ty này kể từ ngày đầu tiên xuất hiện năm 1997.

Netflix vẫn đang là kẻ dẫn đầu cuộc chơi

Netflix trở thành mối đe doạ của những studio chuyên sản xuất phim hàn lâm sau phát súng “Roma”.

Trước sự xuất hiện của Disney+ và thậm chí sắp tới là Apple TV+, Netflix – luôn giữ ngôi vương trong mảng thị trường chiếu phim trực tuyến – đang cần mẫn thay đổi và phát triển để duy trì phong độ của mình trước cuộc chiến. Thế nhưng, chúng ta cũng cần nhìn vào cách Netflix đã phát triển, và lý do tại sao hiện tại đây vẫn là “ông hoàng” của rạp chiếu phim tại gia, dẫu xuất hiện không ít đối thủ. 

Netflix với sự lãnh đạo của Reed Hastings đã luôn là kẻ dẫn đầu. Nếu như Disney đang tối ưu hóa sản phẩm Disney+ và thực hiện gần như chính xác những gì Netflix đã làm (trừ việc sử dụng nhiều tiền hơn), thì Netflix được biết đến với khả năng phán đoán chuẩn xác xu hướng trong tương lai và chuyển mình để đạt được những yêu cầu, xu hướng đó. Từ những ngày đầu cho thuê DVD đến việc ra mắt hệ thống chiếu phim trực tuyến năm 2007 và bắt đầu sản xuất nội dung riêng đầu tiên năm 2012 với bộ phim “Lilyhammer“, giờ đây Netflix đang rót tiền để cho sản xuất rất nhiều tác phẩm độc lập hàng năm, bao gồm cả những bộ phim danh tiếng để đem đi tham dự những giải thưởng lớn nhỏ.

Tham vọng của Netflix đang không dừng lại ở việc làm tốt ở mảng chiếu phim trực tuyến.

Rõ ràng, tham vọng của Netflix đang không dừng lại ở việc làm tốt ở mảng chiếu phim trực tuyến. Thương hiệu này đang phấn đấu trở thành một nhà sản xuất thực sự tài năng, để lại dấu ấn ở cả số lượng lẫn chất lượng với phát súng giòn giã đầu tiên năm 2018 mang tên “Roma” của đạo diễn Alfonso Cuarón.

Oscars lần thứ 91 đánh dấu lịch sử khi “Roma” của Netflix nhận 10 đề cử và thắng 3, là một trong những bộ phim sáng giá nhất của 2018. “Roma” cũng là đề cử Phim truyện hay nhất đầu tiên mà không có ghi nhận doanh thu từ rạp phim, vì đơn giản tất cả mọi người đều xem ở nhà. Bộ phim chỉ được ra mắt ở một số rạp phim nhỏ tại Mỹ mà Netflix thuê trong vài ngày để đáp ứng điều kiện tranh cử Oscar (cũng có nghĩa là không ai phải trả tiền để xem “Roma” ở rạp).

Một thế mạnh nữa mà Netflix đang bỏ xa các đối thủ khác, chính là thuật toán nền tảng sử dụng AI (trí tuệ nhân tạo) để đưa ra những gợi ý phim phù hợp với sở thích của từng người dùng. Netflix đã đầu tư mạnh vào công nghệ và thuật toán trong năm 2018 với 1.3 tỉ đô. Chính vì vậy, trải nghiệm xem phim tại Netflix luôn được đánh giá cao, cho dù là điện thoại, máy tính hay TV.

Người dẫn đầu và kẻ “chơi lớn”, ai mạnh hơn?

Disney+ sở hữu kho phim ảnh đồ sộ của hãng Disney.

Cũng dựa trên thông báo với các nhà đầu tư, Disney dự tính chi sẽ khoảng 1 tỉ đô cho đến năm 2020 và khoảng 2 tỉ đô vào năm 2024 để sản xuất các nội dung riêng cho Disney+. Con số này khi so sánh với Netflix thì không đáng kể, vì chỉ trong năm 2018, Netflix đã tiêu đến 12 tỉ đô và dự kiến là 15 tỉ đô vào năm nay. Tuy nhiên, cũng phải kể đến việc Disney đã có sẵn kho nội dung khổng lồ từ trước đến nay thu hút đầy đủ các độ tuổi, còn Netflix thì phải đang tận tụy xây dựng mọi thứ. Đó là còn chưa kể đến những tác phẩm kinh điển trường tồn với thời gian của Disney như “Lion King” hay “Lady and the Tramp“.

Nếu như Netflix đang cần mẫn tạo nên thư viện phim khổng lồ của mình với đầy đủ các nội dung từ phim điện ảnh, phim dài tập, chương trình thực tế,… thì Disney lại vừa khiến dư luận toàn thế giới xôn xao với giao dịch mua lại Fox với giá trị 71 tỉ USD – một con số khổng lồ và tham vọng cho bất kỳ những dự định nào của hãng này. Vốn đã sở hữu 26% thị phần phòng vé vào năm 2018, việc thâu tóm Fox sẽ giúp nâng con số này lên 35.1% – hơn gấp đôi cái tên đứng thứ 2 trong danh sách là Warner Bros. với 16.3%.

Việc thâu tóm 20th Centerury Fox giúp Disney nắm trong tay nhiều tựa phim danh tiếng.

Việc sở hữu Fox cũng khiến Disney giờ đây nắm quyền những thương hiệu phim lớn như “Life of Pi“, “The Martian“, “Bohemian Rhapsody” hay “Logan“. Đào sâu vào vấn đề, nhiều người nhận ra phi vụ mua lại Fox của Disney cũng có khả năng làm Netflix chao đảo, nhất là khi Netflix đang mon men tiến đến gần “thánh địa” phim hàn lâm với một vài tác phẩm nhất định như “Roma”, “The Other Side of the Wind” hay “Okja“. Trong khi đó Disney và Disney+ rõ ràng có vị thế lớn hơn hẳn Netflix nhờ việc sở hữu cũng như sản xuất các bộ phim được giới chuyên môn đánh giá cao với “The Shape of Water, “Hidden Figures”, “Avatar“, “The Revenant“,… từ phía Fox.

Thế nhưng, hẳn nhiên những bộ phim bom tấn vẫn sẽ được Disney ưu ái đem ra rạp phim oanh tạc trước khi gia nhập Disney+. Giờ đây, chúng ta còn một cuộc chiến nữa đang dần được định hình lại: rạp phim truyền thống và rạp phim tại nhà.

Thật khó để phân biệt liệu bộ phim nào là dành cho màn ảnh lớn hay dành cho một dịch vụ chiếu phim trực tuyến, nhất là khi có những gương mặt như ‘Roma’ xuất hiện. Những người làm phim ngày nay có lẽ cũng không còn tin rằng tình yêu với rạp phim của họ có thể lấn át được cách mà khán giả muốn xem phim bây giờ,” một nhà làm phim chia sẻ với trang Vanity Fair.

Nhiều khả năng Netflix vẫn giữ được thế thượng phong với phong cách phát hành phim riêng biệt của mình, dù là bom tấn cho đến những bộ phim dài tập thường ngày. Cùng lúc đó, Disney vẫn đang đi theo công thức cũ: sản xuất –> ra rạp –> đem về Disney+. Việc hợp nhất Disney và Fox cũng có nghĩa rằng số lượng phim được cả 2 đưa ra rạp sẽ ít hơn đáng kể (để tránh trường hợp gà nhà đấu nhau), và những cái tên không chạm chân được đến rạp phim sẽ dừng lại ở Disney+, có thể với kinh phí thấp hơn và dàn diễn viên kém đắt đỏ hơn, xem xét số tiền chỉ 1 tỉ USD kể trên được Disney cho phép.

Disney gỡ bỏ toàn nội dung của mình ra khỏi Netflix.

Chỉ là sự khởi đầu

Dù là Disney+ hay Netflix, mỗi bên lại sở hữu thế mạnh và ưu điểm riêng trong cuộc chiến xem phim trực tuyến. Nếu như Disney+ được đứng sau bởi một đế chế hùng mạnh cùng nguồn tiền gần như vô hạn để thâu tóm cũng như vượt mặt mọi đối thủ, thì Netflix trước giờ vẫn luôn được nhớ đến như kẻ đi đầu trào lưu.

Sự đối đầu giữa hai bên không chỉ là sự đối đầu về tài chính, mà sâu xa còn là sự chuyển mình thay đổi của các hãng sản xuất phim trong thời đại 4.0, khi mọi tiêu chuẩn và thói quen xem phim đang thay đổi từ rạp chiếu phim thông thường đến màn hình TV tại gia. Trải nghiệm thưởng thức điện ảnh tại rạp phim vẫn được coi là độc tôn và có giá trị riêng, tuy nhiên điều gì sẽ quyết định việc khán giả muốn thưởng thức một bộ phim ở đâu, nhất là khi những khái niệm cũ đang bị phá vỡ?

Trong kỉ nguyên công nghệ mới luôn luôn thay đổi, Disney+ và Netflix thực chất chỉ đang bắt đầu những bước đầu tiên trong hành trình tiếp cận thị hiếu người xem, với mục đích cuối cùng không phải là để tiêu diệt lẫn nhau, mà là mở rộng tối đa doanh thu. Liệu Disney+ có giúp Disney ngày càng giàu mạnh, và liệu Netflix có thể thành công khi từ chối tiếp cận các rạp phim? Câu trả lời vẫn còn ở phía trước.

Bài: Hiếu Đồng