Điều trị ung thư vú

Làm Đẹp

Sau khi được bác sỹ tại phòng khám bệnh chẩn đoán mắc ung thư vú, điều quan trọng nhất là người bệnh nên bình tĩnh, xác định ung thư vú là bệnh có khả năng chữa khỏi cao, đặc biệt khi bệnh còn ở giai đoạn sớm và với các tiến bộ khoa học như hiện nay, các phương pháp điều trị hiệu quả cao, nhiều thuốc hóa chất, nội tiết, các thuốc điều trị sinh học mới ra đời đã từng bước cải thiện rõ rệt thời gian sống cũng như chất lượng cuộc sống của người bệnh.

Bệnh nhân nên đến các bệnh viện chuyên khoa ung thư để được tư vấn về khả năng điều trị, các phương pháp điều trị, các biến chứng, tác dụng không mong muốn cũng như chi phí của từng phương pháp điều trị để bệnh nhân và bác sỹ cùng bàn bạc cùng đưa ra phương pháp điều trị tối ưu, phù hợp nhất đối với từng người bệnh.

Hàng năm, bệnh viện K điều trị cho khoảng gần 1000 trường hợp mới mắc ung thư vú, tuy nhiên rất đáng tiếc có những trường hợp bệnh nhân sau khi được chẩn đoán ung
thư, được bác sỹ khuyên nên đến điều trị sớm bệnh nhân đã từ chối điều trị với quan niệm sai lầm là bệnh ung thư khi đụng dao kéo sẽ làm cho bệnh nặng thêm mà về nhà đắp lá, uống thuốc nam trong một thời gian, khi quay trở lại viện thì khối u đã phát triển lan rộng, vỡ loét, chảy máu, thậm chí đã di căn xa nhiều nơi.

Điều trị ung thư vú tại:

– HN: Bệnh viện K; bệnh viện U bướu; Bệnh viện Bạch Mai
– Tp.HCM: Bệnh viện U bướu Tp.HCM; Bệnh viện Chợ Rẫy; khoa Ung bướu – Bệnh viện FV

Lúc này rõ ràng cơ hội để điều trị khỏi không còn nữa và việc điều trị nhằm giảm nhẹ triệu chứng và kéo dài thời gian sống thêm không đáng kể.

Nói chung, các phương pháp điều trị bệnh ung thư vú hiện nay bao gồm: phẫu thuật, tia xạ, hóa chất, nội tiết và các thuốc sinh học. Việc điều trị bằng phối hợp hai hay nhiều phương pháp phụ thuộc vào đặc điểm của từng bệnh nhân.

Các phương pháp điều trị cụ thể

>> Phẫu thuật

Có nhiều hình thức phẫu thuật được áp dụng trong điều trị ung thư vú:

– Phẫu thuật bảo tồn: Cắt rộng tuyến vú có chứa u kèm theo vét hạch nách, được áp dụng cho bệnh nhân có bệnh ở giai đoạn sớm, phụ nữ có nhu cầu giữ lại tuyến vú.

– Phẫu thuật cắt tuyến vú: Cắt toàn bộ tuyến vú có u kèm theo vét hạch nách. Áp dụng cho các khối u còn di động, chưa xâm lấn lan rộng, hạch nách còn di động, chưa có di căn xa.

– Phẫu thuật tạo hình: Sau phẫu thuật cắt tuyến vú, phẫu thuật tạo hình tái tạo lại hình dáng tuyến vú được áp dụng cùng thời điểm với phẫu thuật cắt tuyến vú hoặc sau phẫu thuật cắt tuyến vú một thời gian cho những bệnh nhân có nhu cầu.

– Ngoài ra phẫu thuật còn được áp dụng trong sinh thiết khối u, sinh thiết hạch cửa, cắt buồng trứng trong điều trị nội tiết cho một số bệnh nhân còn kinh nguyệt có chỉ định.

>> Tia xạ

Được áp dụng cho tất cả các bệnh nhân sau phẫu thuật bảo tồn, một số bệnh nhân có u kích thước lớn, số lượng hạch nách di căn nhiều, tia xạ cắt buồng trứng hoặc tia xạ chống đau, chống chèn ép, chảy máu trong nhiều trường hợp ung thư giai đoạn muộn.

>> Hóa chất

Được áp dụng rộng rãi ngay từ khi bệnh còn ở giai đoạn sớm vì ngày nay người ta xác định rõ ung thư vú không phải là bệnh tại chỗ, các khối u vú có thể đã có những tế bào di căn xa ngay từ thời điểm khối u còn rất nhỏ mà bằng các phương pháp chẩn đoán hiện tại chưa phát hiện được.

Có nhiều loại hóa chất được áp dụng trong điều trị ung thư vú, việc chỉ định cụ thể phải dựa vào đặc điểm bệnh của từng bệnh nhân, từ đó bác sỹ sẽ lựa chọn phác đồ điều trị bệnh phù hợp với từng người bệnh.

>> Nội tiết

Có khoảng trên 70% các khối u vú phát triển phụ thuộc vào nội tiết, bằng xét nghiệm mô bệnh học với phương pháp nhuộm đặc biệt có thể biết được khối u phát triển có phụ thuộc vào nội tiết không.

Nếu kết quả khối u phát triển phụ thuộc vào nội tiết bệnh nhân sẽ được điều trị nội tiết trong vòng 5 năm, các bác sỹ sẽ dựa trên tình trạng kinh nguyệt, một số yếu tố khác và cân nhắc xem bệnh nhân sẽ được điều trị bằng loại thuốc nội tiết nào.

>> Các thuốc điều trị sinh học

Với sự phát triển không ngừng của khoa học hiện đại, một số thuốc điều trị sinh học đã và đang áp dụng có hiệu quả cao trong điều trị ung thư vú như thuốc kháng thể chống yếu tố phát triển biểu mô (Herceptin), tuy nhiên thuốc này cũng chỉ được chỉ định trong khoảng 25 – 30% trường hợp mắc ung thư vú có thụ thể yếu tố phát triển biểu mô dương tính, và hiện nay giá thành của thuốc còn đắt nên việc áp dụng chưa được rộng rãi.

Hiện nay các phương pháp điều trị bệnh ung thư vú như phẫu thuật, tia xạ, hóa chất, sinh học đều có mặt ở Việt Nam. Các phác đồ điều trị mới nhất trên thế giới đều được cập nhật, áp dụng tại các cơ sở chuyên khoa điều trị ung thư.

Bệnh nhân trong quá trình điều trị được theo dõi, hướng dẫn về nhận biết các tác dụng phụ của điều trị, cách xử trí khi có các tác dụng phụ, được hướng dẫn về chế độ sinh hoạt, dinh dưỡng khoa học trong và sau khi kết thúc điều trị.

Việc hướng dẫn cụ thể về chế độ sinh hoạt, dinh dưỡng tùy thuộc vào từng giai đoạn điều trị, tuy nhiên người bệnh ung thư vú nên duy trì chế độ dinh dưỡng hợp lý, không nên ăn kiêng hay hạn chế tối đa loại thực phẩm nào, cố gắng duy trì thể lực tốt để có thể tiếp tục các liệu trình điều trị.

Biến chứng sau điều trị

Điều trị ung thư vú là sự phối hợp giữa  các phương pháp điều trị tại chỗ, tại vùng và

Phẫu thuật tạo hình vú tại:

Hà Nội:- Bệnh viện K: 43 Quán Sứ. ĐT: 825 2143, 825 7697. – Viện Quân y 103: Phùng Hưng, Xa La, TX Hà Đông. ĐT: 688 4975.

– Khoa phẫu thuật thẩm mỹ – BV Việt Nam – Cu Ba: 37 Hai Bà Trưng. ĐT: 934 7187. – Khoa phẫu thuật Thẩm mỹ – Viện Quân y 108: Số 1 Trần Hưng Đạo. ĐT: 069. 555283. – Viện Bỏng Quốc Gia (cấy ghép da): Tân Triều, Thanh Trì. ĐT: 688 318.

Tp. HCM:- Bệnh viện U bướu Tp.HCM: Số 03 Nơ Trang Long, P.7, Q.Bình Thạnh. ĐT: 841 2637. – Khoa Phẫu thuật Thẩm mỹ – Bệnh viện Chợ Rẫy: 201B Nguyễn Chí Thanh, Q.5. ĐT: 855 4138.

toàn thân. Các phương pháp điều trị bao gồm: phẫu thuật, tia xạ, hóa chất, nội tiết và sinh học, trong đó phẫu thuật là phương pháp điều trị chủ đạo đặc biệt khi bệnh còn ở giai đoạn sớm chưa có di căn xa.

Theo quan điểm trước đây, ung thư vú là một bệnh tại chỗ tại vùng nên phẫu thuật càng rộng càng tốt thì nay quan niệm này đã thay đổi.

Ung thư vú là một bệnh hệ thống, đặc biệt khi hạch nách đã bị xâm lấn, di căn, cần áp dụng phương pháp điều trị toàn thân để hoàn thiện bổ sung cho sự điều trị tại chỗ.

Phẫu thuật trong điều trị ung thư vú đã có nhiều cải tiến qua thời gian, ban đầu Halsted (1852 – 1922) đưa ra phương pháp phẫu thuật rộng rãi để điều trị ung thư vú bao gồm cắt tuyến vú với vạt da rộng cùng với cơ ngực lớn và vét bỏ hạch nách cùng bên, sau đó Patey (1889 – 1977) nhận thấy trong các trường hợp u chưa xâm lấn tới cơ ngực lớn việc cắt bỏ cơ này là không cần thiết và gây nên một sự tàn phá nặng nề cho bệnh nhân.

Chính vì vậy ông đề cập tới phương pháp cắt tuyến vú triệt căn kết hợp với nạo vét hạch nách nhưng bảo tồn cơ ngực lớn.

Đến năm 1980, một nghiên cứu tại Viện Ung thư quốc gia Italia được tiến hành trên 701 bệnh nhân ung thư vú có đường kính u không lớn hơn 2cm được điều trị bằng cắt 1/4 tuyến vú và cắt tuyến vú triệt căn cải biên (Patey), bệnh nhân được điều trị bổ trợ bằng tia xạ sau phẫu thuật.

Kết quả cho thấy tỉ lệ tái phát và thời gian sống thêm của hai nhóm này là như nhau. Kết quả cũng tương tự như vậy ở một nghiên cứu tại Viện Ung thư quốc gia Hoa Kỳ năm 1984 trên số lượng 1843 bệnh nhân ung thư vú có kích thước u dưới 4cm được điều trị bằng phẫu thuật cắt rộng u và phẫu thuật Patey kết hợp với xạ trị hậu phẫu cho bệnh nhân cả hai nhóm.

Như vậy, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của điều trị toàn thân trong ung thư vú, xu hướng điều trị phẫu thuật bảo tồn ngày càng được áp dụng rộng rãi. Đặc biệt người ta có thể dùng hóa chất điều trị trước phẫu thuật với mục đích thu nhỏ kích thước u làm tăng khả năng phẫu thuật bảo tồn tuyến vú, đảm bảo nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

>> Những biến chứng sớm của phẫu thuật cắt toàn bộ tuyến vú thường là:

– Nhiễm trùng vết mổ: Vùng mổ có thể sưng nề, tấy đỏ có thể kèm theo tình trạng nhiễm trùng toàn thân nhưng hiếm khi gặp vì bệnh nhân được dùng kháng sinh sau mổ. Cần phải điều trị chống viêm, tìm nguyên nhân nhiễm trùng.

– Chảy máu, tụ máu sau mổ: Thường tai biến xảy ra trong vòng 24 – 48 giờ đầu sau mổ có thể do buộc các mạch không tốt hoặc do bật các nút cầm máu khi dùng dao điện đốt trong quá trình mổ. Khi đã tạo thành ổ máu cục cần phải mở lại vết mổ để lấy ra.

 Những trường hợp khác phải theo dõi sát số lượng dịch máu sau khi xử lý bảng ép vết mổ và dùng các thuốc cầm máu, khi cần có thể phải mở lại vết mổ để cầm máu kịp thời.

– Thiếu dinh dưỡng hoặc hoại tử vạt da phủ tại vùng ngực hoặc vùng nách cũng có thể xảy ra nếu vạt da quá mỏng hoặc do mạch máu cung cấp vùng đó bị tổn thương. Cần phải cắt lọc, khâu vá lại vạt da đã bị hoại tử.

– Đọng dịch thường tại vị trí thành ngực hay hố nách sau mổ thường lượng dịch qua dẫn lưu từ 30 đến 40ml trong vòng 24 giờ. Có thể rút dẫn lưu, sau khi rút dẫn lưu có thể đặt thay vào vị trí của ống sonde dẫn lưu một "lam" dẫn lưu ngắn để dịch còn lại có thể ra hết và rút sau 2 – 3 ngày.

Khắc phục tình trạng đọng dịch bằng những bài tập tay tối thiểu sau khi rút sonde dẫn lưu. Một số trường hợp có thể phải mở dẫn lưu lại hoặc phải lưu sonde lâu hơn ở những trường hợp lượng dịch ra nhiều.

>> Biến chứng muộn:

– Thường gặp nhất là phù tay sau vét hạch nách. Những yếu tố liên quan tới phù tay là biến chứng của đọng dịch vết mổ, xạ trị hậu phẫu hoặc vét hạch quá sâu.

– Một biến chứng muộn nữa của phẫu thuật vét hạch nách là cảm giác tê bì vùng sườn nách phía dưới của hố nách và tê bì mặt trong cánh tay cùng bên của vú đã phẫu thuật. Một số nhỏ bệnh nhân có thể bị liệt tay sau điều trị ở những năm thứ 3, thứ 4 hoặc thậm chí gặp ở những năm sau nữa.

Để khắc phục những biến chứng muộn sau phẫu thuật bệnh nhân sau mổ cần được hướng dẫn những bài tập tay một cách đều đặn, thường xuyên.

Phẫu thuật tạo hình

Hiện nay do nhận thức của người bệnh đã thay đổi nhiều, bệnh nhân đến viện ở giai đoạn sớm, số lượng bệnh nhân được phẫu thuật bảo tồn tại bệnh viện K ngày càng tăng lên, do vậy tâm lý bệnh nhân sau điều trị không bị ảnh hưởng nhiều.

Đối với các trường hợp bệnh nhân không có chỉ định phẫu thuật bảo tồn thì phương pháp điều trị hiện nay là cắt toàn bộ tuyến vú có u kèm theo vét hạch nách.

Với những nhu cầu về chất lượng cuộc sống ngày càng được nâng lên, vấn đề tạo hình lại vú sau phẫu thuật điều trị ung thư vú đã trở thành một nhu cầu thiết yếu trong toàn bộ quá trình điều trị. Các phương pháp phẫu thuật tạo hình vú bao gồm:

– Đặt túi độn ngực

Đây là phương pháp đơn giản và được áp dụng cho những trường hợp không khuyết nhiều da và tổ chức dưới da ở bên vú bị cắt bỏ u.

Ngày nay, để bù đắp khuyết tổ chức của vú tốt nhất là sử dụng túi độn ngực bơm giãn bằng huyết thanh vì có thể thay đổi thể tích vú theo ý muốn của bệnh nhân.

Nhược điểm của phương pháp này là không tạo được cho vú mới một hình dáng tự nhiên như vú bên lành.

Bên cạnh đó cũng phải kể đến những biến chứng khác của phương pháp này như thay đổi vị trí của túi độn, phản ứng tạo bao xơ xung quanh túi độn.

– Tạo thể tích cho vú bị cắt bỏ bằng vạt da – cơ lưng to

Vạt da-cơ lưng to được coi là một chất liệu rất tốt để tạo hình vú. Việc tạo thể tích cho vú bị cắt bỏ bằng vạt da – cơ lưng to đã trở thành một phương pháp kinh điển trong tạo hình vú. Ưu điểm của phương pháp này là dễ thực hiện vạt da – cơ có khả năng sống tốt do mạch nuôi dưỡng khỏe.

Các biến chứng có thể xảy ra như chảy máu, nhiễm trùng, chuyển dịch vị trí túi độn ngực, co kéo vạt cơ lưng to… nhưng hiếm gặp.

– Tạo thể tích cho vú cắt bỏ bằng vạt da – cơ thẳng bụng

Tạo thể tích cho vú bị cắt bỏ bằng dùng vạt da – cơ thẳng bụng là một kỹ thuật phức tạp đòi hỏi trang thiết bị và kinh nghiệm cao của phẫu thuật viên nhưng đưa lại kết quả tạo hình khá ổn định so với những kỹ thuật khác.

Đối với kỹ thuật dùng vạt da cơ thẳng bụng là một kỹ thuật nặng nề, thời gian mổ lâu, trường mổ rộng, thời gian bệnh nhân lưu lại sau phẫu thuật kéo dài do vậy những biến chứng như tắc tĩnh mạch có thể xảy ra.

Các biến chứng khác như thiếu dưỡng của vạt da hay hoại tử, thoát vị thành bụng, sổ bụng cũng có thể có nhưng hiếm gặp.

Việc phẫu thuật tạo hình tuyến vú sau phẫu thuật cắt tuyến vú do ung thư hiện nay được thực hiện tốt ở một số bệnh viện có uy tín như Bệnh viện K, Viện Phẫu thuật thẩm mỹ Việt nam – Cu ba, Bệnh viện quân y 103…

Chi phí điều trị tùy thuộc từng loại hình phẫu thuật, các chất liệu được sử dụng trong tạo hình. Bệnh nhân có thể đến bệnh viện để được tư vấn các thông tin cần thiết phù hợp với loại hình phẫu thuật mà mình có thể được áp dụng.

Thực hiện: depweb

10/04/2008, 14:04