Y học lý thú

Làm Đẹp

1. Tìm ra gen hình thành vỏ não

Từ xưa đến nay, não luôn luôn là những bí mật lớn nhất cần được khám phá.

Ngày 18/01/2008 vừa qua, trên Tạp chí Science công bố, các nhà nghiên cứu ĐH California (Hoa Kỳ) do TS Edwin Monuki đứng đầu đã tiến một bước dài trên con đường khám phá này với thành công phát hiện ra một loại gen, ký hiệu Lhx2 chỉ huy những tế bào gốc xây dựng nên vỏ não.

Như người ta đã biết, vỏ não chịu trách nhiệm về ngôn ngữ, thị giác và ra quyết định. Không có gen Lhx2, các tế bào gốc không chuyển hóa thành tế bào vỏ não.

Phát hiện này không những góp phần tìm hiểu cơ chế tư duy mà còn mang lại nhiều lợi ích trong y học: chữa trị các loại bệnh tâm thần, như hồi phục và thay thế các tế bào thần kinh để chữa bệnh cho những người đột quỵ, chấn thương sọ não dẫn tới mất trí nhớ, thoái hóa não. 

    (MedlinePlus)

2. Tìm hiểu nguồn gốc bệnh bạch cầu

Bệnh bạch cầu (tức ung thư máu) cũng khá phổ biến. Năm 2007, riêng ở Mỹ có 44.240 bệnh nhân (trong số này có khá nhiều trẻ em) với 21.790 người đã tử vong.

Khi nghiên cứu tế bào máu của một cặp trẻ sinh đôi, các nhà khoa học đã có cái nhìn mới về hiện tượng một số trẻ em bị nhiễm độc để dẫn đến ung thư máu, thậm chí cả trước khi sinh.

Cặp sinh đôi mà các nhà khoa học nghiên cứu tuy cùng bị chia sẻ các tế bào bị đột biến, dấu hiệu của tiền ung thư nhưng một em bị bệnh bạch cầu, một em không. Như vậy có nghĩa là ở một em, tế bào đột biến biến thành ác tính và bị bệnh.

Các nhà khoa học đã tách riêng các tế bào ấy, và đang xác định điều kiện nào đã làm một tế bào đột biến bị trở thành tế bào ác tính.

Tuy nhiên, Evers, một trong các tác giả nói: “Dù vậy cũng khó mà khống chế được quá trình chuyển hóa này nên tốt hơn hết phải coi toàn bộ tế bào đột biến là mục tiêu để diệt trước khi chúng chuyển hóa”.

 (MedlinePlus)

3. Người bị tiểu đường thường trầm cảm

Bác sĩ Chaoyang Li và đồng nghiệp tại Trung tâm Phòng bệnh ở Atlanta (Mỹ) đã phân tích số liệu từ 18.814 bệnh nhân tiểu đường, nhận thấy 8,3% trong số họ bị mắc chứng trầm cảm.

Đó là tỷ lệ chung, nhưng tình trạng trầm cảm còn phụ thuộc vào lứa tuổi, thấp nhất ở lứa tuổi 18-29, cao nhất ở những bệnh nhân từ 30 đến 39 tuổi và trên 40 lại giảm xuống.

Phụ nữ bị trầm cảm nhiều hơn nam giới. Những người bị tiểu đường typ 2 bị trầm cảm nhiều hơn bệnh nhân tiểu đường typ 1, liên quan đến việc sử dụng thuốc insulin (ở người tiểu đường typ 2).

Ông kết luận: Trầm cảm không phải bệnh đi kèm với tiểu dường mà xuất hiện trong quá trình điều trị dưới ảnh hưởng của thuốc. Vì thế, những bác sĩ chăm sóc họ cần theo dõi để có phác đồ điều trị giảm thiểu trầm cảm ở họ”.

 (MedlinePlus)

4. Chụp não giúp ta hiểu rõ hơn vì sao người ta ăn quá mức

Các nhà khoa học Mỹ đã phát hiện ra một vùng ở não liên quan đến ham muốn ăn thật nhiều ở người và nhờ vậy đã có cách khống chế tình trạng ham ăn.

Để đi đến kết luận này, các nhà nghiên cứu Phòng thí nghiệm quốc gia Brookhaven do BS Wang đứng đầu đã dùng phương pháp chụp ảnh cộng hưởng từ (RMI) để quan sát xem vùng não nào đóng vai trò gửi “thông điệp” tới dạ dày, ra lệnh ngừng ăn khi dạ dày nạp thức ăn đến mức độ vừa đủ và đã biết được, đó là hạch hạnh nhân sau, phía trái.

Họ nhận thấy ở những người bị béo phì, vùng não này hoạt động lười biếng, do một trục trặc nào đó, nên lệnh thông báo “dạ dày đã đầy” không tới được đối tượng nhận lệnh.

BS Wang cho biết: “Như vậy, để hạn chế ăn, ngoài biện pháp thay đổi hành vi, còn có thể can thiệp bằng thuốc hay giải phẫu để hoạt hóa hạch hạnh nhân”.

Nhóm của ông còn có một phát hiện thú vị khác là tìm ra một hocmon là ghrelin kích thích sự thèm ăn, khiến những người có hàm lượng chất này cao “ăn không biết chán”.

Như vậy để giảm béo thành công phải dùng biện pháp kết hợp: hoạt hóa hạch hạnh nhân và giảm hàm lượng ghrelin.

 (MedlinePlus)

5. Trầm cảm và béo phì chung sống với nhiều phụ nữ trung niên

 Những thông tin thu thập được gồm chiều cao, cân nặng, thói quen tập thể dục, chế độ ăn kiêng và ngoại hình của 4.641 phụ nữ Mỹ tuổi từ 40 đến 65 cùng với trả lời những câu hỏi điều tra đã rút ra được những kết luận sau đây:

– Số phụ nữ bị trầm cảm nhiều gấp đôi số phụ nữ bị béo phì (chỉ số BMI trên 30) và trong số những người bị béo thì tỷ lệ bị trầm cảm cao gấp đôi những người bình thường.

– Những phụ nữ béo thường ít tập thể dục và ăn vào một số calo nhiều hơn 20% so với người bình thường.

– “Béo và trầm cảm là một vòng luẩn quẩn. Càng tăng cân, người ta càng trầm cảm, và càng trầm cảm, càng lo lắng, người ta càng dễ tăng cân” – BS Gregory Simon, chủ trì nghiên cứu trên nói.

 (MedlinePlus)

6. Vitamin D giúp phụ nữ lớn tuổi giảm bị ngã

Theo một nghiên cứu của Bệnh viện Perth (Australia), vitamin D2 kết hợp với canxi có tác dụng giúp các phụ nữ trung niên chống suy nhược, củng cố xương nhất là tránh khỏi nguy cơ bị ngã.

GS Richard Prince, ĐH Tây Australia cho biết: Nếu dùng thường xuyên vitamin D2 và canxi, nguy cơ bị ngã ở phụ nữ lớn tuổi giảm được từ 43 đến 53%, nguy cơ bị gãy xương giảm 20%. Theo thống kê tại Australia, những phụ nữ trên 65, trung bình mỗi năm bị ngã một lần, trong đó 6 người bị gãy xương.

Khi dùng các chế phẩm vitamin D (ergocalciferol) 1.000 IU (đơn vị quốc tế), bổ sung citrat canxi với lượng 1.000 mg/ngày, hiện tượng ngã của phụ nữ đã được khắc phục đáng kể.
 

  (Reuters)

7. Đã phát hiện gen nghiện ma túy

Các nhà khoa học Trung Quốc (Hongkong) đã phát hiện ra khoảng 400 gen làm người ta rất dễ mắc nghiện ma túy và từ đó sẽ có thể đưa ra những phương pháp trị liệu.

Các chuyên gia cho rằng yếu tố di truyền chiếm tới 60% tính dễ mắc nghiện và yếu tố môi trường (do sự lôi kéo của bạn bè hoặc có người thân đang nghiện) chiếm 40% còn lại.

Nghiên cứu nhằm vào bốn chất gây nghiện chủ yếu là cocain, thuốc phiện, rượu và nicotin và vạch ra 5 con đường chính (“con đường phân tử”) dẫn đến nghiện ngập. Đó là cơ chế làm thỏa mãn và đáp ứng, được xem là mục tiêu để đưa ra các phương pháp cai nghiện.

Các nhà nghiên cứu đã rà soát 1.000 công trình liên quan giữa gen và các khu vực nhiễm sắc thể với sự nghiện ma túy đã được công bố trong 30 năm qua trên các tạp chí y sinh học, xử lý trên máy tính rồi tập hợp thành một danh sách 1.500 gen liên quan và cuối cùng gút lại thành 396 gen.

    (Reuters)

      

8. Mẹ ăn kiêng, con tránh được bệnh

Nếu khi mang bầu, người mẹ ăn kiêng theo thực đơn của những người ở Địa Trung Hải, nhiều cá, hoa quả tươi, rau củ, các sản phẩm sữa và dầu ôliu có thể làm cho những đứa con sinh ra chống lại được bệnh dị ứng và hen suyễn.

Đó là kết luận của một công trình nghiên cứu sự liên hệ giữa thói quen ăn uống của người mẹ đến bệnh tật của con cái qua 468 cặp mẹ con từ khi sinh cho tới năm đứa trẻ lên tới 6 tuổi rưỡi.

Những người mẹ ăn mỗi tuần 8 lần rau, hơn 3 lần cá, hơn 1 lần rau củ có thể tin chắc rằng con cái mình khỏi bệnh hen suyễn và dị ứng. Còn các bà mẹ ăn thịt đỏ từ 3 đến 4 lần mỗi tuần, nguy cơ con cái mắc các bệnh trên khá cao.

Trong khi đó, thói quen ăn uống của chính bản thân trẻ từ 6 tuổi rưỡi trở lên ít ảnh hưởng đến các bệnh tật này.

  (Reuters)

       

Thực hiện: depweb

27/02/2008, 15:56