Palestine: Bèo dạt mây trôi

Sự Kiện
Kỳ 11
Tác giả Phương Mai đang trên một chuyến hành trình để viết sách mang tên “Con đường Hồi giáo”. Chuyến đi bắt đầu ở Saudi, nơi Hồi giáo khởi phát, sau đó theo chân các chiến binh Hồi giáo tỏa sang châu Phi đến Ma Rốc, và châu Á đến Ấn Độ. Các chiến binh Hồi giáo chiếm được thành phố nào thì tác giả sẽ đến đúng thành phố ấy. Đây là dải đất hùng vĩ của nền văn minh Hồi giáo thời kỳ cực thịnh. Mời các bạn theo dõi nhật ký chuyến đi trên Đẹp hàng tháng, phần một “Khởi đầu gian nan” bắt đầu khởi đăng từ số tháng 2/2012.

Vào tầm này đúng một  năm trước, ngày 23/11/ 2011, ông Abbas, người đứng đầu tổ chức giải phóng Palestine đệ trình lên Liên Hợp Quốc một bản yêu cầu cho phép người dân Palestine chính thức được thành lập nhà nước Palestine.

Tôi còn nhớ những ngày rất bé, chừng 10 tuổi, đọc báo Thiếu Niên có một bài viết tựa đề là: “Palestine Nuna – Đất Palestine là của người Palestine”. Bài viết có hình ảnh một cô bé trạc tuổi tôi, mắt mở to thảng thốt. Đôi mắt ấy dai dẳng theo suốt những năm tháng tôi lớn khôn. Bài viết về một vấn đề chính trị to tát nhưng đăng vắn tắt trên tờ báo trẻ con đã làm nên một điều thần kỳ: Tôi chẳng biết Palestine là ở đâu, cái gì đang diễn ra trên vùng đất ấy. Nhưng tôi tin chắc một điều là lẽ phải luôn thuộc về người Palestine.  

Niềm tin đơn giản và ngây thơ ấy, bất chấp bao nhiêu cuộc chiến thông tin, đã tìm được cách gắn chặt vào tiềm thức của tôi, cho đến ngày tôi gặp Ahmad trong một trại tị nạn của người Palestine ở Li Băng. Chưa kịp nghe tôi mở miệng, anh đặt tay lên vai tôi và nhẹ nhàng nói: “Mai à! Trên đời này làm gì có cái gọi là đất nước Palestine!”.

Chuyện “Phong hậu” và “Qua-sha-la”

Câu chuyện của Ahmad làm đảo lộn niềm tin thiêng liêng của tuổi thơ tôi.

“Từ xa xưa khoảng hơn 3000 năm trước, góc phía Tây bán đảo Ả Rập là nơi sinh sống của một số tộc người Ả Rập và cũng là điểm đến của một số bộ lạc di cư. Hai trong số những bộ lạc di cư này là tộc người Israel tìm đến miền đất mới do Chúa hứa ban tặng (Kinh thánh), và một số tộc người từ vùng đảo Crete phía Nam của Hy Lạp vượt biển tìm nơi sinh sống mới. Người từ đảo Crete mạnh mẽ, thiện chiến, trở thành kẻ thù của nhiều tộc người khác do chiếm được nhiều đất đai, thậm chí gây hấn cả với Pharaoh Ai Cập. Họ được người Israel gọi theo tiếng Do Thái là Peleshet (tiếng Anh – Philistine), có nghĩa là những người di cư và chiếm đóng. Cái tên Palestine lần đầu tiên được nhắc đến bởi một nhà sử học Hy Lạp, ám chỉ vùng đất nơi những người của nhiều bộ tộc khác nhau cùng đến di cư và tranh chấp.   

Hơn 1000 năm sau đó, khu vực này nằm dưới sự trị vì của đế chế Roma rộng lớn. Tộc người Israel khi đó đã lớn mạnh và lập nước vững vàng nhưng cũng không thoát khỏi ách đô hộ của Roma. Họ liên tục nổi dậy. Hoàng đế Roma sau khi đập tan một cuộc cách mạng của dân Do Thái Israel thì quyết định đổi tên quốc gia này thành Palestine, sát nhập vào với cả vùng đất rộng lớn của các tộc người Ả Rập gốc quanh đó nhằm xóa bỏ triệt để dấu ấn của nhà nước Do Thái. Cái tên Palestine và người Palestine tiếp tục được đế chế Thổ Nhĩ Kỳ và đế chế Anh dùng để chỉ vùng thuộc địa bao gồm Israel, Jordan, Li Băng và một phần Syria.”

“Mai thấy không, cái tên Palestine quả thật là đáng nực cười. Nó thoạt tiên là từ chỉ những kẻ từ đảo Crete di cư đến chiếm đóng, sau trở thành cái tên chỉ mang tính địa lý vĩ mô. Những kẻ chiếm đóng từ hơn 3000 năm trước thì đã tan tác tứ phương thành mây thành khói. Những tộc người gốc Ả Rập, trừ Syria, thì từ mấy ngàn năm qua sống kiểu bộ lạc, chẳng lập được nên vương quốc lớn mạnh nào cho mình nên đương nhiên cái tên riêng cũng chẳng có. Cho đến năm 1948 khi tự dưng có một quốc gia Do Thái là Israel được Liên Hợp Quốc chấp nhận nằm thùi lùi giữa vùng Palestine như cái gai trong mắt thì Liên minh các nước Hồi giáo Ả Rập mới tức tốc đẻ non ra nhà nước Palestine với tư cách là một quốc gia để phản đối. Túm lại, những bộ tộc người Ả Rập quanh vùng này được các nước Ả Rập lớn ‘phong hậu’ thành nhà nước Palestine đơn giản chỉ để thành cái công cụ chống lại Israel.”

“Mai có bao giờ muốn đất nước của mình có tên là kẻ chiếm đóng không?”

Tôi im lặng nhìn Ahmad. Anh có nước da trắng và đôi mắt nâu nhạt của người vùng Nam Âu. Rồi tôi lại cố gắng tìm cách hiểu câu chuyện của anh bằng cách tưởng tượng rằng, mấy nghìn năm trước, các bộ lạc nói tiếng Việt người vùng Đông Nam Á phải tranh giành đất đai với một bộ lạc hùng mạnh đến từ một hòn đảo xa xôi. Họ bị gọi là “quân xâm lăng”, phiên âm tiếng Anh thành “Qua-sha-la”. Rồi Pháp đô hộ Đông Nam Á, đổi tên toàn vùng thành “Qua-sha-la”. Chúng ta vẫn nói tiếng Việt nhưng bị gọi là người “Qua-sha-la”. Đến một ngày kia, chúng ta cũng muốn lập một nhà nước tự chủ giống như Lào với Campuchia và chúng ta đòi Liên Hợp Quốc phải công nhận chúng ta là quốc gia tự trị có tên là “Qua-sha-la”.

Tưởng tượng đến đây thì tôi đầu hàng!  

Bức tường xây chắn giữa Israel và Palestine để chống người Palestine đánh bom cảm tử

Nơi Chúa lọt lòng

Ngôi sao bạc trong hang đá Bethlehem đánh dấu nơi Jesus chào đời

Cũng giống như nhiều vùng đất ở Trung Đông nơi đa phần dân số là người Hồi nhưng những điểm du lịch quan trọng nhất lại là các thánh đường Thiên Chúa và Do Thái giáo, do đây là cái nôi của cả ba tôn giáo cùng huyết thống và thờ cùng một đức Chúa Trời (Ala). Theo dòng người đổ về Bethlehem, tôi bị cuốn đi cùng hàng trăm tín đồ vừa sùng kính vừa nóng ruột cố nhích từng centimet suốt hai tiếng liền để được bước chân vào hang đá nơi Chúa Jesus chào đời.

Thánh đường Nativity là thánh đường lâu đời nhất trên thế giới vẫn còn tồn tại. Cái cổng vào bằng đá bé tí xíu thấp lè tè nằm khuất nẻo khiến một lữ khách vô tâm có thể dễ dàng bỏ qua. Cổng này có tên là Khiêm Nhường (Humility), chỉ được xây cao chừng 1,2m vốn để ngăn không cho xe kéo và trâu bò đi qua. Tất nhiên là cho đến ngày hôm nay thì chẳng ai còn phải lo trâu bò phạm thượng. Trong một cuộc đọ súng giữa quân Israel và các chiến binh Palestine, sự linh thiêng của Nativity đã khiến quân Israel chỉ dám đứng trấn ở ngoài suốt 38 ngày vì không dám nổ súng trong thánh đường.  

Hang Sữa Mẹ (Milk Grotto) nơi Đức Mẹ Đồng trinh và Chúa Jesus tránh nạn trước khi trốn sang Ai Cập. Khi đó hoàng đế Roma được điềm báo rằng sẽ có một nam hài đồng sinh ra chiếm ngôi và ông đã ra lệnh giết tất cả các bé trai dưới 2 tuổi.

Cúi đầu bước chân qua cửa đá Khiêm Nhường là cả một không gian mịt mù hương khói, vừa âm u khí thiêng, vừa náo nức con chiên. Tôi xếp hàng nhích dần từng bước đến cửa hang đá, đi sâu xuống chừng chục bậc thang thì lọt thỏm vào một hầm núi nhỏ chỉ bằng một căn phòng be bé. Bên dưới một ban thờ trang hoàng lộng lẫy là nền đá nơi Jesus lọt lòng được đánh dấu bằng một ngôi sao bạc. Tôi cũng quỳ xuống, cũng thò đầu vào bên dưới cái bệ thờ chỉ rộng chừng 1m, cũng chạm tay vào ngôi sao bạc. Chạm một cái rồi phải rụt lại ngay vì bên cạnh tôi, bà du khách ngoan đạo người Thái đã vục mặt xuống ngôi sao bạc mà hôn, mắt giàn giụa nước.

Chỉ không đầy 5 phút sau, cả tôi và bà con chiên người Thái suýt bị tống cổ ra khỏi hang đá. Nguyên do là tôi và bà ấy khi ngồi xuống ở bậc thang để hoàn hồn thì ông đạo sĩ đứng canh ở đó yêu cầu cả hai không được… vắt chân chữ ngũ. Sau này tôi mới biết vắt chân là biểu hiện của sự thư giãn, không hợp với không khí nghiêm trang của thánh đường. Bà người Thái hóa ra rất bướng, bà bật lại ông đạo sĩ bằng tiếng Anh rất chuẩn: “Theo văn hóa nước tôi, phụ nữ vắt chân là biểu hiện của thanh lịch và khiêm nhường”. Ông thầy tu cãi không lại nên hằn học đứng nhìn hai ả đàn bà vừa vắt chéo chân, tim vừa rung thùm thụp.

 

Mỗi ngày 5 lần cầu nguyện

Cửa xuống hang đá Bethlehem

Nơi ông tổ qua đời

Không những ba tôn giáo Do Thái, Thiên Chúa và Hồi giáo đều thờ một Chúa, họ còn có cùng một ông tổ sống chừng 4000 năm trước tên là Abraham. Nơi Abraham và gia đình được chôn cất là một hang đá ở Hebron. Người Hồi xây trùm lên hang đá này một thánh đường tên là Machpela và trong suốt hơn 600 năm chỉ cho phép tín đồ Hồi giáo vào làm lễ. Người Do Thái muốn đến vái ông tổ của mình (thật ra là của chung) thì chỉ được bước đến bậc thang thứ 7.

Cho đến tận khi Palestine bị Israel chiếm đóng thì Machpela mới được mở cửa cho cả người Thiên Chúa, Do Thái và người ngoại đạo.

Machpela và những ngôi mộ của tổ tiên 3 giáo phái (người đàn ông được quyền ngồi là người Hồi)

Ở nơi Jesus sinh ra, tôi phải xếp hàng 2 tiếng cùng hàng trăm người mới vào được đến thánh đường. Ở nơi ông tổ của cả ba tôn giáo yên nghỉ, tôi là du khách duy nhất. Ấy là tôi tưởng thế cho đến khi đang bước qua mấy lần cửa gác của lính chiếm đóng Israel thì giật bắn mình khi nghe thấy những tiếng ra lệnh gằn ngắn gọn từ phía sau. Chỉ trong giây lát, hàng chục lính đặc nhiệm Israel với súng ống lựu đạn đầy người đã tỏa ra chiếm lĩnh các hướng và vị trí cố thủ. Họ quỳ gối, tay đặt lên nòng, nheo mắt nhìn tôi, sẵn sàng xả đạn.

Một cậu bé Palestine đang chơi bóng gần đó bật cười ha ha. Cậu chạy lại, kéo tay tôi và chỉ lên tầng trên của thánh đường Machpela. Vừa thoáng thấy những chỏm đầu có phủ một miếng mũ nhỏ tròn tròn của người Do Thái, tôi đã hiểu ngay ra vấn đề. Mỗi khi có du khách người Do Thái dám cả gan liều mạng (mà cũng chắc chắn chỉ vì công chuyện) phải tới Palestine nói chung và Machpela nói riêng, việc bảo vệ họ có lẽ còn cẩn thận hơn bảo vệ các tổng thống. Rất nhiều bạn bè Do Thái của tôi dù trông không khác gì người Ả Rập Palestine, nhưng cả đời họ sẽ không bao giờ dám nghĩ đến chuyện đặt chân qua biên giới. Họ cho rằng ai nhìn cũng sẽ biết họ là người Do Thái, có lẽ bởi sự sợ hãi bị trả thù không thể che giấu nổi trong đôi mắt của kẻ chiếm đóng.

Nếu ở thánh đường Thiên Chúa Nativity tôi suýt bị đuổi cổ vì dám ngồi vắt chân, thì ở thánh đường Hồi giáo Machpela, tôi cũng suýt bị đuổi cổ chỉ vì dám cả gan… ngồi. Nhà thờ Hồi giáo luôn trải thảm cho tín đồ quỳ hành lễ, ngồi nghỉ ngơi, dựa lưng tán dóc, và thậm chí nằm ngủ trưa tránh nắng. Nhưng khi tôi ngồi xuống bên cạnh bức tường để ngắm nhìn hai cái lăng mộ cả nghìn năm tuổi thì bị một ông cai đến nhắc đứng dậy. Tôi bắt chước bà người Thái ở Nativity cũng hăm hở cãi lại: “Thế cái ông đang ngồi dựa hẳn lưng vào lăng mộ chân co chân duỗi lim dim mắt kia thì sao?” – “Ông ấy là người Hồi!”. Tôi ngoan cố không nghe thì bị lườm nguýt. Cho đến khi thấy tôi dừng lại nói chuyện với một vài cô gái Palestine đến làm lễ thì ông cai thẳng cánh đòi hất tôi ra cửa. Đường cùng, tôi dọa: “Ông muốn bắt nạt tôi à? Để tôi đi mách… lính Israel!”. Như một con chuột bị dọa mèo, ông cai lủi thẳng.  

Còn tôi đứng khóc rưng rức. Nước mắt giàn giụa còn hơn cả bà người Thái khi được hôn lên nơi Chúa chào đời.

Chỉ có điều bà ấy khóc vì bà ấy còn tin vào lòng yêu thương của Chúa chịu nạn sẽ cứu rỗi con người. Tôi khóc vì thấy mình, dù đứng trong trung tâm linh thiêng hội tụ tổ tiên của ba tôn giáo tồn tại hơn 3000 năm với hơn 4,5 tỉ tín đồ, mà phải cầu cứu đến bạo lực của kẻ chiếm đóng để cứu rỗi những quyền tưởng chừng như cơ bản nhất của con người.

Lần đầu tiên trên đường vạn dặm, tôi thấy mình giống như một người Palestine, chỉ như là bèo dạt mây trôi vậy thôi. “Kẻ chiếm đóng”, “Giặc ngoại xâm”, “Chúa hài đồng”, “Lòng yêu thương”, “Niềm oán hận”… Tất cả đan chéo mòng mòng. Và thế là tôi chính thức từ biệt tuổi thơ, chính thức từ biệt niềm tin vào việc có một lẽ phải giản đơn trên đời.

Kỳ sau: Ai Cập – Con nhân sư không ngủ

Bài & ảnh: Phương Mai

Thực hiện: depweb

14/12/2012, 09:39