Tác phẩm kinh dị nổi tiếng một thời “The Shining” ra mắt phần hậu truyện đầy ám ảnh

Giải Trí

Sau 39 năm đi vào lịch sử và trở thành biểu tượng của dòng phim kinh dị, “The Shining” được chuyển thể từ tiểu thuyết của Stephen King đã ra mắt trailer giới thiệu phần hậu truyện tiếp theo với tên gọi “Doctor Sleep” 

Poster của “Doctor Sleep”  – phần hậu truyện của tác phẩm kinh dị nổi tiếng “The Shining”

“Doctor Sleep” lấy bối cảnh nhiều năm sau “The Shining” (1980), khi cậu bé Danny giờ đây đã trưởng thành nhưng liên tục chìm trong rượu và phải đối diện với những hồn ma trong quá khứ. Quyết định làm lại cuộc đời, Danny đã dọn đến sống tại New Hampshire.

Trong lúc đó, Danny dần phát hiện ra mình có một năng lực siêu nhiên mạnh mẽ và có thể kết nối với cô bé 12 tuổi tên Abra Stone. Từ đấy, Danny và Abra đoàn kết cùng nhau để chống lại Rose the Hat – những kẻ chuyên truy sát những người có năng lực đặc biệt như Danny và Abra để có cuộc sống bất tử.

Những cảnh phim kinh điển của “The Shining” được tái hiện lại trong phần phim mới.

Được chuyển thể từ tiểu thuyết kinh dị cùng tên của Stephen King “Doctor Sleep” là phần tiếp theo của bộ phim kinh dị nổi tiếng “The Shinning” do Stanley Kubrick làm đạo diễn. 

Bộ phim được sản xuất bởi đạo diễn Mike Flanagan  – người đứng sau thành công của hàng loạt những tác phẩm kinh dị ấn tượng như “Oculus” (2013), “Hush” (2016), “Ouija: Origin of Evil” (2016),…  Mike Flanagan tiếp quản phần 2 của “The Shining” khi mà đạo diễn tiền nhiệm quá cố Stanley Kubrick đã phát triển bản điện ảnh theo tầm nhìn của chính ông chứ không phải tiểu thuyết.

Tác phẩm được phát triển dựa trên tiểu thuyết gốc của Stephen King và phần phim The Shining năm 1980 của Stanley Kubrick.

Đảm nhận vai chính trong tác phẩm là nam diễn viên kỳ cựu Ewan McGregor. Anh từng gây ấn tượng với khán giả với vai diễn Obi-Wan Kenobi thời trẻ trong “Star Wars Episode I: The Phantom Menace” (1999).

“Doctor Sleep” là dự án phim kinh dị mới nhất của hãng Warner Bros. được chuyển từ tiểu thuyết của Stephen King sau thành công phòng vé của “IT” trong năm 2017.

Phim dự kiến khởi chiếu từ 8/11/2019.

Bài: PV

18/06/2019, 04:11

Phim chính sử – thể loại phim khiến khán giả truyền hình “điên đảo”

Giải Trí

Chẳng cần sáng tạo quá nhiều, những bộ phim khai thác chính sự kiện có thật trong lịch sử lại đang trở thành xu hướng mới trong ngành truyền hình.

Historical Drama (phim chính sử) là một thể loại không mấy xa lạ đối với những người đam mê phim ảnh. Những bộ phim thuộc thể loại chính sử luôn dựa trên những sự kiện có thật, bám sát thông tin được ghi chép trong lịch sử. Trong quá khứ, thể loại chính sử thịnh hành nhất đối với phim truyền hình chỉ có các series cổ trang về thời xưa, như “The Tudors”, “Reign”, “The Last Kingdom”, “Vikings” hay “Poldark”. Tuy nhiên tới những năm gần đây, một xu hướng mới đã nảy sinh trong thể loại chính sử và đạt được những thành công vượt trội, đó là phim chính sử về thời hiện đại.

Sự kiện nào cũng có thể thành phim, miễn là khai thác đúng con người

Năm 2016, sau khi đã đạt được nhiều danh tiếng với các series “American Horror Story”“Glee”, nhà sản xuất tài năng của kênh FX – Ryan Murphy đã thử sức với một series mới, thuộc thể loại chính sử và khai thác đề tài hình sự, có tên “American Crime Story” (Truyện Hình Sự Mỹ). Phần đầu tiên của series này, mang tên “The People v. O. J. Simpson” đã kể lại chi tiết và rất chuẩn xác một trong những vụ xét xử rùm beng nhất xã hội nước Mỹ – vụ xử tội danh thủ bóng bầu dục da màu O. J. Simpson vì tội sát hại vợ cũ năm 1995.

Mùa đầu tiên của “American Crime Story” đã tái hiện chân thực phiên tòa lịch sử nước Mỹ hơn 10 năm về trước

Ngoài đời, vụ án O. J. Simpson đã trở thành một hiện tượng đối với đại chúng Mỹ, được truyền hình trực tiếp để người dân cả nước ngày ngày theo dõi. Với một sự việc đã quá quen thuộc như vậy, tưởng như việc làm phim kể lại nó là điều không cần thiết. Nhưng thật ngạc nhiên, “The People v. O. J. Simpson” đã được khán giả đón nhận nhiệt tình, thu về vô số giải thưởng lớn của năm, thậm chí hâm nóng lại chính vụ án đã trôi qua hơn một thập kỷ trong lòng người xem. Có được điều này là vì Ryan Murphy đã rất khôn khéo khi xây dựng cốt truyện. Thay vì lần theo từng dấu mốc khô khan của vụ án, thì Ryan khai thác chính những con người theo đuổi phiên xét xử này: hai công tố viên, bộ sậu luật sư bào chữa,… cùng những vấn đề trong cuộc sống mà họ mắc phải trong thời gian đó. Chính cái nhìn mới mẻ này đã tạo cho “The People v. O. J. Simpson” sức hấp dẫn độc đáo, mà vẫn không hề xa rời sự thật.

Tại lễ trao Giải Primetime Emmy lần thứ 68, mùa phim đầu tiên nhận được 22 đề cử Emmy.

Không nằm ngoài xu hướng, một hãng truyền hình nổi tiếng khác là HBO gần đây cũng đã thử sức với thể loại chính sử với mini-series “Chernobyl” dài 5 tập. Bộ phim xoay quanh vụ nổ nhà máy điện nguyên tử ở Ukraine năm 1986, được coi là thảm họa hạt nhân tồi tệ nhất trong lịch sử nhân loại. Cũng như “American Crime Story” của FX, “Chernobyl” của HBO cũng có vô vàn tư liệu, hình ảnh thực tế phải bám sát. Nhưng bằng lối kể truyện đầy gay cấn, theo sát bước chân những người gây ra thảm họa, các nạn nhân của nó, cho tới những viên chức, nhà khoa học được cử đi khắc phục sự cố… vụ nổ Chernobyl đã hiện lên sống động hơn bao giờ hết. Chỉ sau 5 tập phim, “Chernobyl” của HBO đã gây sốt đến mức tại bên kia địa cầu, nước Nga – nơi từng xử lý vụ việc này hơn 30 năm trước – cũng không ngừng đưa tin và bình luận về series này.

“Chernobyl” đạt điểm số cực kỳ cao trên IMDb (9,6/10) sau khi trình làng.

Càng gần với lịch sử, càng được người xem hoan nghênh

Một trong những lợi thế của phim chính sử là rất nhiều hình ảnh, bằng chứng để dựa vào khi xây dựng series, thay vì phải viết kịch bản hoàn toàn mới như các thể loại khác. Cùng với đó, khán giả khi xem các series này cũng có thú vui độc đáo là tìm kiếm tư liệu thực, đối chiếu với các chi tiết trong phim để xem bộ phim “thật” đến bao nhiêu.

Năm 2017, Ryan Murphy, tác giả của “American Crime Story” tiếp tục ra mắt một series chính sử khác mang tên “Feud” (Thâm Thù). Nội dung mỗi mùa của “Feud” đều xoay quanh hai người nổi tiếng ghét cay ghét đắng nhau trong quá khứ. Và ở season 1, đối tượng của “Feud” là hai nữ minh tinh huyền thoại của màn bạc Hollywood thế kỷ 20 – Joan Crawford và Bette Davis. Trái qua mỗi tập phim, người xem lại rùng mình khi từng cảnh phim được tái hiện y như hình ảnh lịch sử được ghi lại: từ cử chỉ của diễn viên khi đóng phim, tới trang phục của các ngôi sao khi đi dự lễ trao giải,.. Tất cả những chi tiết được tái hiện chính xác tột cùng ấy vừa nâng cao giá trị cho series, lại càng khiến khán giả đổ nhiều tâm huyết hơn khi xem phim.

Mùa đầu tiên, “Feud” tái hiện chân thật lại những thù hận tai tiếng của Joan Crawford và Bette Davis

Tương tự, series chính sử hoành tráng “The Crown” của hãng Netflix cũng khai thác thời trẻ của nữ hoàng Elizabeth Đệ Nhị. Khi xem phim, khán giả luôn phải há miệng trầm trồ khi những gian phòng lộng lẫy của điện Buckingham, hay những trang phục, phụ kiện xa hoa của hoàng gia Anh đều được Netflix đầu tư phục dựng không khác gì đời thực. Những sự kiện được tường thuật trong “The Crown” cũng sát với thực tế đến mức chính bản thân nữ hoàng Elizabeth – tâm điểm của bộ phim cũng phải công nhận. Mới đây, Olivia Colman, người thủ vai Elizabeth trong season 3 của “The Crown” đã được chính Elizabeth phong tước, một vinh dự đồng thời là lời khen của nữ hoàng đối với series này.

Những câu chuyện đằng sau ngai vàng của Nữ hoàng được tái hiện sống động qua những thước phim của “The Crown”

Phim chính sử vừa không đòi hỏi phải sáng tạo nên câu chuyện mới, vừa cho nhà sản xuất và khán giả có cơ hội đào sâu thêm về những con người, mảnh đời từng làm nên lịch sử. Một series chính sử xuất sắc có thể khiến người xem tìm hiểu lịch sử hiệu quả hơn cả sách giáo khoa trên lớp. Vậy nên việc thể loại này trở thành xu hướng, được nhiều hãng phim lớn đua nhau thực hiện là tín hiệu rất đáng mừng của ngành truyền hình thế giới.

Những bộ phim khiến chúng ta nhận ra mỗi ông bố là một người hùng

Giải Trí

Đằng sau vẻ nghiêm nghị, khó tính và kiệm lời của cha là cả tấm lòng yêu thương con vô bờ mà không từ ngữ nào diễn tả được. Hình tượng các ông bố cũng được khai thác cực kỳ cảm động trên màn ảnh rộng. Hãy cùng Đẹp Online điểm qua những bộ phim về tình phụ tử mà bạn có thể xem đi xem lại nhiều lần mà vẫn không cảm thấy chán. 

“The Kid” (1921): bộ phim về tình cha con hay nhất của kỷ nguyên phim câm

Đây là tác phẩm điện ảnh đầu tiên của “vua hề” Charlie Chaplin – người đã khiến khán giả xúc động với câu chuyện nhân văn về một “gã lang thang” cố gắng bảo vệ đứa con nuôi khỏi trại trẻ mồ côi.

“The Kid” là một trong những bộ phim tuyệt vời của Charlie Chaplin

Charlie vào vai anh chàng lang thang “The Tramp” vụng về cố gắng xoay xở bằng mọi cách với mong muốn nuôi dạy đứa bé trở thành một người tử tế, biết cách tn ti trong xã hi khi không có gia đình. Những phân cảnh hành động phạm pháp của “vua hề Sác Lô” để kiếm thức ăn nuôi con mang lại tiếng cười cho khán giả, nhưng phần nào cũng cho thấy bi kịch của con người trong xã hội.

Bên cạnh những giây phút hài hước, “The Kid” còn chứa đựng nhiều khoảnh khắc xúc động. Dù không cùng huyết thống nhưng chính lòng yêu thương chân thành của hai nhân vật đã tăng thêm giá trị thông điệp của tác phẩm. Cũng giống như dòng chữ giới thiệu bộ phim mà chính Charlie gửi gắm: “Một bộ phim với một nụ cười và có lẽ, một giọt nước mắt”.

“Kramer vs Kramer” (1979): tình cảm cha con là điều thiêng liêng nhất

Ra mắt vào thập niên 1970, “Kramer vs. Kramer” là một bộ phim thách thức những định kiến bấy giờ về vai trò, vị trí của đàn ông và phụ nữ trong gia đình. Trước đây, nếu xảy ra một vụ ly di, chắc chắn, đứa con sẽ được mẹ chăm sóc, người cha chỉ có nhiệm vụ chu cấp mỗi tháng. Nhưng “Kramer vs. Kramer” thì khẳng định rằng: đàn ông cũng có thể chăm sóc cho con cái chu đáo chẳng thua gì phụ nữ.

Sức sống của “Kramer vs Kramer” mãi trường tồn vì những bài học về giá trị của tình cảm cha con, gia đình mà bộ phim mang lại

Chuyện phim kể về hành trình “học làm bố” của Ted Kramer (Dustin Hoffman), người đàn ông yêu công việc hơn gia đình. Bỗng một ngày, Joanna, vợ anh đột ngột đòi ly hôn. Cô để lại cậu con trai Billy 5 tuổi cho Ted chăm sóc.

Ted không phải là người cha lý tưởng. Anh vụng về trong mọi thứ: đánh rơi cả vỏ trứng vào bát, đi siêu thị nhưng không biết mua đồ gì hay thậm chí không nhớ nổi con trai mình đang học lớp mấy… Tuy nhiên, tình yêu dành cho con đã dạy anh cách trở thành một người cha thực thụ.  Anh bắt đầu biết dành thời gian trò chuyện, chia sẻ với con trai, dạy con tập xe đạp,… Sự tận tuỵ của một người cha đã khiến Ted bị sa thải. Nhưng anh cũng học được rằng, tình cảm cha con mới là thứ đáng giá, thiêng liêng nhất.

Bộ phim đã giành đến 5 giải Oscar 1980 ở những hạng mục quan trọng như đạo diễn, kịch bản chuyển thể, nam chính, nữ phụ và phim xuất sắc nhất.

Nhưng lúc Ted đã ổn định cuộc sống cùng Billy thì cũng là lúc Joanna, vợ cũ của anh quay về giành quyền giám hộ đứa bé. Như một bản năng của người bố, Ted vùng lên chiến đấu để được ở cạnh con trai.

“Big Fish” (2003): tình cha con được dệt lên từ những câu chuyện cổ tích

“Big Fish” là bộ phim về tình cha con được đạo diễn Tim Burton thực hiện sau khi cả cha và mẹ ông qua đời trước đó. Tác phẩm đạt doanh thu 122,9 triệu USD và nhận bốn đề cử Quả Cầu Vàng, đặc biệt là “Phim hài/nhạc kịch xuất sắc”. “Big Fish” được xem là một trong những tác phẩm thành công nhất của Tim Burton.

“Big Fish” là một câu chuyện giàu trí tưởng tượng dựa trên tình phụ tử

Nhân vật chính của bộ phim là cậu con trai William. Suốt tuổi thơ của mình, William đã được nghe người cha Edward Bloom kể về chuyến phiêu lưu thời trẻ vừa thực vừa ảo của ông. Trong những câu chuyện ấy luôn hiện hữu các nhân vật phi thường như người khổng lồ, phù thủy, người sói,…

Khi trưởng thành, Will không còn tin vào những lời kể ấy và cho rằng tất cả chỉ là bịa đặt. Mãi đến khi biết tin cha sắp qua đời, anh mới quyết tâm tìm hiểu sự thật đằng sau câu chuyện huyền bí ấy để rồi William bị cuốn vào chuyến du hành đặc sắc.

 

“Finding Nemo (2003): hãy yêu thương con cái đúng cách

Là một trong những phim hoạt hình kinh điển của hãng Disney, “Finding Nemo” là hành trình tuyệt vời, khắc họa tình cảm cha con đầy thiêng liêng.

Marlin chính là hình mẫu để các bậc phụ huynh có cái nhìn đúng đắn hơn về cách dạy con: chăm sóc con quá kỹ lưỡng khiến đứa trẻ dần trở nên tự ti, không thể bảo vệ nỗi chính mình.

Tận sâu dưới đáy đại dương là gia đình nhỏ của cá hề Nemo. Vì mồ côi mẹ từ nhỏ, nên Nemo luôn được bố Marlin yêu thương và hết mực chăm sóc. Chính vì nỗi sợ hãi trong lòng mà Marlin trở nên dè dặt, khô khan, bảo vệ Nemo tới mức cực đoan.

Và khi Nemo lạc đến bên kia của đại dương, Marlin đã quyết tâm lên đường tìm kiếm con trai dẫu không hề có bất kỳ manh mối nào. Những khoảnh khắc Marlin vùng vẫy chiến đấu với cá mập, hay cố gắng vượt qua đàn sứa độc đã để tìm Nemo khiến người xem không khỏi xúc động.

“Miracle In Cell No.7” (2013): bản giao hưởng nhẹ nhàng của tình cha con nơi phòng giam ảm đạm

Bộ phim từng lấy không ít nước mắt khán giả Hàn Quốc lẫn Việt Nam khi được ra mắt. Câu chuyện cảm động về người cha thiểu năng và cô con gái nhỏ tuổi nhưng thông minh nơi phòng giam mang đến cho người xem những khoảnh khắc hài hước pha lẫn nước mắt. “Miracle In Cell No.7” khiến chúng ta nhận ra rằng, dẫu trong bất kỳ hoàn cảnh nào các ông bố vẫn luôn bảo vệ những đứa con bằng mọi giá, kể cả có phải đánh đổi bằng chính sinh mạng của mình.

Bộ phim là một bài ca đẹp về tình người, tình phụ tử

“Train to Busan” (2016): vì con, cha có thể làm tất cả!

Seo Wook được mô tả là người đàn ông của công việc khi phần lớn thời gian chỉ để nghiên cứu làm sao hoàn thành chỉ tiêu của công ty thay vì chăm sóc gia đình nhỏ. Chính vì thế mà khoảng cách của anh và cô con gái nhỏ Su An ngày càng lớn. Để bù đắp cho con gái, Seo Wook đưa Su An về thăm mẹ ở Busan mà không hề biết rằng, chờ đón họ trên chuyến tàu ấy là binh đoàn zombie khát máu sẵn sàng tấn công bất kỳ ai mà chúng thấy.

Không chỉ là bộ phim Zombie đơn thuần, “Train to Busan” còn khắc hoạc rõ nét tình cảm cha con lúc sinh tử.

Thời khắc sinh tử đã kéo hai cho con lại gần nhau hơn và giúp Seo Wook hiểu ra rằng anh đã quá lãng phí thời gian cho tiền bạc, công việc mà bỏ rơi gia đình lẫn Su An. Đến cuối cùng để bù đắp cho sự vô tâm hời hợt trước đây, và trên hết là để con gái được sống một đời bình an, Seo Wook đã quyết định dùng sinh mạng đối đầu với zombie.

Elton John và David Furnish: 25 năm mặn nồng phá vỡ mọi định kiến về tình yêu đồng giới

Giải Trí

Nếu nói về sự ân hận lớn nhất trong đời Elton John – người đàn ông sinh ra để trở thành huyền thoại âm nhạc, thì đó là việc làm tổn thương người phụ nữ yêu ông – Renate Blauel, và nếu hỏi về niềm hạnh phúc lớn nhất của nam danh ca, đó ắt hẳn là đã gặp được David Furnish giữa thế gian rộng lớn: “Tôi chính là người đàn ông may mắn nhất trên thế giới”, Elton kết luận.

Sir Elton Hercules John (tên thật: Reginald Kenneth Dwight) sinh năm 1947 tại Anh, là một trong những huyền thoại âm nhạc được khán giả yêu mến trong suốt hơn 50 năm qua.

Không ngờ rằng tìm quên chính mình cũng đồng nghĩa tổn thương người khác và tự làm đau bản thân

Sớm đã bộc lộ tài năng âm nhạc trời phú và niềm khao khát được tỏa sáng rực rỡ, Elton có được sự nghiệp huyền thoại với sự phát cuồng của giới mộ điệu toàn thế giới. Nhưng ít ai biết được rằng một Elton John luôn lộng lẫy trên sân khấu, đứng ở đỉnh cao danh vọng, lại phải đối mặt với nhiều áp lực đáng sợ sau cánh gà, từ sự cô đơn lâu ngày, sự cố gắng không ngừng nghỉ để duy trì hình tượng và phong cách quái chiêu với những bộ cánh kì dị đến quyết định công khai giới tính. Tảng đá vô hình ấy khiến ông trở nên cộc cằn, khó chịu và chìm đắm trong những cuộc vui chơi xa hoa cùng men rượu để quên đi nỗi buồn dai dẳng. Và cái gì đến rồi cũng sẽ đến, năm 1976, trong một cuộc phỏng vấn trên tờ Rolling Stone, Elton John công khai mình là người lưỡng tính.

Ông đã cho ra đời những ca khúc bất hủ: “Your Song”, “Tiny Dancer”, “Rocket Man”, “Bennie and the Jets”,… nhận được 5 giải Grammy cùng 1 giải Oscar và được vinh danh trong các BXH như “Top 100 nhạc sĩ ảnh hưởng nhất kỷ nguyên rock and roll”, “Top 100 nghệ sĩ hot nhất mọi thời đại”,…

Thông tin bất ngờ trên khiến giới mộ điệu ngỡ ngàng và họ đoán già đoán non lý do ông đợi đến chừng đó năm mới công khai giới tính thật của mình. Phần đông cho rằng Elton lo sợ người hâm mộ không thể chấp nhận có một người đồng tính hát hò trên sân khấu, thế giới sẽ quay lưng với ông… Nhưng lời hồi đáp của Elton John thì hoàn toàn trái ngược: “Quyết định công khai giới tính là điều tuy không mấy dễ dàng với tôi ở thời điểm đó nhưng trong sâu thẳm tâm hồn mình, tôi chưa bao giờ lựa chọn giấu giếm. Tôi không có bạn gái, cũng chẳng hẹn hò cô gái nào, tôi nghĩ bấy nhiêu dấu hiệu đó cũng đủ để mọi người hiểu. Và trong buổi phỏng vấn năm đó, khi Cliff Jahr hỏi liệu tôi có phải là bisexual không, tôi đã thẳng thắn cho anh ấy biết”.

Năm 1988, ông thừa nhận rằng mình cảm thấy thoải mái hơn khi yêu đàn ông.

Năm 1984, chủ nhân hit “Your Song” bất ngờ tuyên bố kết hôn với người phụ nữ tên Renate Blauel. Cả hai đã nảy sinh tình cảm sau một năm làm việc cùng nhau trong album “Too Low For Zero”. Dù ông đã công khai mình là người lưỡng tính nhưng công chúng vẫn hy vọng ông tìm thấy hạnh phúc bên Renate. Tuy nhiên, cặp đôi đã nói lời chia tay chỉ sau 4 năm chung sống.

Trải lòng về cuộc hôn nhân đổ vỡ, Elton cho biết: “Trước đây, tôi chọn Úc là nơi để bước vào lễ đường với người phụ nữ mình yêu và trân trọng. Điều tôi mong muốn nhất khi đó là làm sao để trở thành một người chồng tốt. Tôi muốn thử bắt đầu một cuộc sống mới sau vài mối tình đồng giới chẳng đi đến đâu. Nhưng biết làm sao được, kết hôn với Renate cũng đồng nghĩa với việc tôi chối bỏ con người thật của mình. Điều đó đã làm cô ấy tổn thương sâu sắc, còn tôi thì thấy vô cùng ân hận và tội lỗi. Tôi mất dần những vòng tay yêu thương, sự tuyệt vọng và nỗi đau khiến tôi lao vào nghiện ngập rượu bia”.

Lễ cưới đầu tiên của Elton John diễn ra tại Sydney (Úc) vào đúng ngày Lễ tình nhân.

Trong đời Elton nếu phải nói về hai sai lầm lớn nhất thì đó là suy nghĩ rằng một người bạn đời khác giới có thể khiến hôn nhân bền vững hơn, và chối bỏ chính mình sẽ khiến bản thân hạnh phúc hơn.

“Gặp David là điều tuyệt vời nhất trong cuộc đời tôi”

Đầu năm 1990, Elton John tỉnh táo trở lại, tránh xa rượu bia và mạnh mẽ đứng lên sau những vấp ngã. 5 năm sau ly hôn, ông gặp David Furnish – nhà sản xuất phim người Canada kém ông 15 tuổi – trong buổi dạ tiệc do chính mình tổ chức, và lập tức phải lòng David bởi vẻ lịch lãm và tính cách nhút nhát. Elton John nhớ lại: “Chúng tôi đi ăn tối ngay ngày hôm sau, mối quan hệ của cả hai tiến triển tốt đến mức không ngờ. Gặp David là điều tuyệt vời nhất trong cuộc đời tôi”. 5 tháng sau, tại lễ trao giải Oscar năm 1994, cặp đôi xuất hiện tay trong tay trên thảm đỏ với nét mặt rạng rỡ.

Elton John và David Furnish những ngày thuở mới yêu.

Chuyện tình của cả hai ngay lập tức vấp phải sự phản đối của mẹ David, khi biết mối quan hệ đồng giới của con trai, bà đã khóc suốt một tuần vì sợ rằng David sẽ không bao giờ có con ruột và chết vì HIV/AIDS – căn bệnh đã giết chết phần đông người đồng tính ở New York và San Francisco lúc bấy giờ.

Nói về chìa khóa để có được mối quan hệ bền chặt hàng thập kỷ, bất chấp rào cản địa lý và thị phi bủa vây, nam danh ca 72 tuổi thổ lộ: “Chúng tôi luôn gửi ‘thư tay tình yêu’ cho nhau vào mỗi thứ Bảy dù ở bất kỳ đâu trên thế giới. Chúng tôi cũng trải qua nhiều khó khăn trong chuyện tình cảm như bất kỳ cặp đôi nào, và cách để vượt qua chính là luôn giữ thói quen gửi gắm tâm tình qua những lá thư”. Những lá thư cứ thế được họ trao qua gửi lại, đều đặn mỗi tuần trong suốt 25 năm qua.

“Can You Feel The Love Tonight” – ca khúc đoạt giải Oscar, nằm trong album nhạc phim của bộ phim hoạt hình “The Lion King” được xem như lời thổ lộ tình cảm mà Elton dành đến David.

Sau 12 năm hẹn hò mặn nồng, trên bãi biển ở miền Nam nước Pháp, Elton đã quỳ gối cầu hôn bạn trai. Cả hai quyết định đăng ký thiết lập quan hệ đối tác dân sự vào năm 2005 và họ là một trong những cặp vợ chồng đầu tiên tại Anh làm điều này. 9 năm sau, khi Nữ hoàng Elizabeth II phê chuẩn dự luật hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới, Elton tổ chức hôn lễ với sự góp mặt của gần 2.000 người hâm mộ, người thân và hai con tại biệt thự riêng ở Windsor.

Elton John đã tạo nên một dấu mốc khó quên trong làng giải trí khi trở thành ngôi sao đồng tính đầu tiên kết hôn hợp pháp.

Chia sẻ về đám cưới năm 2014, David cho biết: “Hôn nhân của chúng tôi không chỉ đơn giản là giấc mơ đã thành hiện thực, mà nó còn giúp những cặp đôi LGBT khác tin tưởng rằng kết hôn không phải là điều xa xỉ không thể chạm tay tới. Bạn hỏi vì sao hợp thức hóa hôn nhân đồng giới lại quan trọng? Vì so với ‘người yêu’ thì hai tiếng ‘bạn đời’ cho ta cảm giác thiêng liêng hơn, không phải sao?”.

Khi kết hôn, Elton John đã từ chối làm hợp đồng hôn nhân dù nam ca sĩ sở hữu khối tài sản trị giá hàng trăm triệu bảng Anh. Lý giải về quyết định này, Elton cho rằng việc làm đó có thể phá hỏng niềm tin và hạnh phúc của đôi bên.

Dù đã về chung một nhà với David Furnish nhưng chuyện có con vẫn khiến Elton John e dè. Và nếu không có chuyến viếng thăm trung tâm nuôi dưỡng trẻ bị nhiễm HIV ở Ukraine năm 2009, có lẽ chuyện có con đối với ông vẫn còn xa vời. Chuyến đi ấy đã đánh thức khao khát làm cha mãnh liệt trong ông: “Vì lối sống, tính chất công việc, tuổi tác và một phần đến từ sự ích kỷ của bản thân, nên tôi thấy mình chưa sẵn sàng để có con. Nhưng những đứa trẻ dễ thương tôi gặp đã thay đổi suy nghĩ và xóa tan nỗi lo trong tôi. Chúng khiến tôi nhận ra rằng mình hoàn toàn có thể nuôi dưỡng trẻ nhỏ, và con cái là món quà mà cuộc sống ban tặng”. Sau này khi đã có 2 con trai nhỏ Zachary (2010) và Elijah (2013) nhờ phương pháp mang thai hộ, Elton hạnh phúc cho biết sự hiện diện của hai cậu con trai khiến những áp lực trong ông vơi đi rất nhiều và tình cảm vợ chồng càng thêm thắm thiết.

Không thuê giúp việc chăm sóc con cái, hai ông bố tự tay chăm bẵm hai đứa trẻ từ việc thay tã đến việc bú bình.

Trong một sự kiện ở New York vào ngày 24/1/2018, Elton cho biết tour “Farewell Yellow Brick Road” bao gồm 300 buổi diễn trên khắp năm châu của ông sẽ dừng chân tại châu Âu năm 2021, khép lại 50 năm lưu diễn của ông. Bên cạnh một số vấn đề về sức khỏe, nguyên nhân chính là ông muốn dành nhiều thời gian cho gia đình: “Các con đem đến cho chúng tôi rất nhiều niềm vui và sự hạnh phúc. Tôi không muốn bỏ lỡ khoảnh khắc ở cạnh các con và David thêm một phút giây nào nữa nữa”. Trong khoảng thời gian nghỉ dưỡng này, ông vẫn thu âm ca khúc, sáng tác nhạc và sản xuất phim.

Với Elton John mà nói, cảm giác được mọi người và luật pháp công nhận cuộc hôn nhân với David khiến ông thấy cuộc sống này vô cùng ý nghĩa và đáng trân quý làm sao.

Lời cam kết và tình cảm cặp đôi dành cho nhau trong suốt hàng thập kỷ qua không chỉ bác bỏ những hoài nghi về tình yêu đồng giới, truyền cảm hứng cho cộng đồng LGBT khắp năm châu, mà còn khẳng định một thông điệp rằng: ai cũng có thể tìm được cho mình một mối tình khắc cốt ghi tâm và xứng đáng có được hạnh phúc.

Hồ sơ diễn xuất đầy ngưỡng mộ của “Rocketman” Taron Egerton

Giải Trí

Tuy tuổi đời còn rất trẻ, nhưng tài tử sinh năm 1989 – Taron Egerton đã chứng tỏ mình sở hữu đầy đủ tố chất của một siêu sao điện ảnh hạng A qua nhiều vai diễn đa dạng.

Điệp viên Eggsy (“Kingsman: The Secret Service” “Kingsman: The Golden Circle”)

Vào năm 2012, Taron Egerton – chàng trai có đôi mắt xanh lục sâu thẳm và nụ cười duyên dáng tốt nghiệp khoa diễn xuất tại Học viện Nghệ thuật Hoàng gia Anh. Chỉ 2 năm sau, gương mặt mới toanh của làng điện ảnh này vào vai nam chính trong một bom tấn hài – hành động với kinh phí 81 triệu USD – “Kingsman: The Secret Service”. Trong phim, Taron Egerton đã phô diễn năng lực nhập vai xuất thần khi thể hiện được hình ảnh cậu thanh niên bình dân, ngỗ nghịch, thoắt cái lại có thể hóa thành chàng điệp viên hào hoa và lịch lãm chết người.

Diễn xuất xuất sắc đến bất ngờ trong “Kingsman: The Secret Service” lập tức đưa Taron Egerton trở thành sao nam được chú ý. 

Trong tất cả những tên tuổi trên, vai Eggsy của Egerton trong “Kingsman” được so sánh với James Bond (“Điệp viên 007”) nhiều hơn cả, bởi sự trùng lặp về “quê quán” tạo nên phong cách lịch thiệp đặc trưng. Tuy nhiên, nét trẻ trung đầy sinh khí của một ngôi sao trẻ đã thổi một luồng gió mới lạ, đôi lúc còn không ngại “móc mỉa” dòng phim điệp viên quen thuộc có đôi phần già cỗi. Mới đây, Egerton công bố anh sẽ không quay trở lại trong phần thứ ba của loạt phim. Thông tin này khiến giới mộ điệu, đặc biệt là các fan của “Kingsman” không khỏi nuối tiếc.

Eddie Edwards (“Eddie The Eagle”)

Trong quãng nghỉ giữa hai phim “Kingsman”, Taron Egerton mạnh dạn nhận lời tham gia bộ phim tiểu sử do Anh và Mỹ hợp tác sản xuất – “Eddie The Eagle”. Lần này, tài tử xứ sương mù đảm nhiệm vai Michael Edwards (Eddie) – một vận động viên nổi tiếng trong làng trượt tuyết Anh. Nếu Eggsy của “Kingsman” được tình cờ trao cho cơ hội đổi đời thì Eddie lại là một tấm gương vượt khó, gạt bỏ mọi trở ngại và định kiến để chạm tay vào giấc mơ Olympic. Để hoàn thành vai diễn, Taron Egerton đã phải rũ bỏ vẻ quyến rũ bên ngoài để vào vai chàng vận động viên khù khờ và quê mùa.

Diễn xuất của Egerton đã làm hài lòng cả nguyên mẫu đời thực là vận động viên trượt tuyết người Anh Eddie Edwards, dù ban đầu Eddie muốn Brad Pitt hoặc Tom Cruise đóng vai mình. Sau khi bộ phim ra mắt, màn hóa thân tuyệt vời của Taron Egerton trong phim đã nhận được nhiều lời khen ngợi tại LHP Sundance.

Johnny (“Sing”)

Ẩn sâu bên trong tài năng mà Taron Egerton được ông trời ưu ái ban cho là giọng hát trầm ấm, ngọt ngào. Lần thử sức đầu tiên của Egerton với biệt tài này là khi anh nhận lời lồng tiếng cho nhân vật chú khỉ đột Johnny trong bộ phim hoạt hình âm nhạc “Đấu Trường Âm Nhạc” (Tựa gốc: “Sing”) của hãng Universal. Nhân vật Johnny của Egerton là cậu con trai của một gia đình khỉ đột chuyên hành nghề trộm cướp nhưng quyết tâm thay đổi cuộc đời vì đam mê ca hát.

Giọng hát của nam diễn viên trẻ đã được các nhà sản xuất lựa chọn để mở đầu cho trailer chính thức của phim và lập tức làm khán giả tan chảy. Trong “Sing”, Taron Egerton thể hiện tất thảy 4 ca khúc (All of Me, The Way I Feel Inside, I’m Still Standing và Stay With Me) đều ở đẳng cấp một ca sĩ chuyên nghiệp.

Elton John (“Rocketman”)

Vai diễn thiên tài âm nhạc Elton John trong phim tiểu sử “Người Hỏa Tiễn (Rocketman)” dường như có sẵn duyên nợ với Taron Egerton.  Khi đạo diễn, nhà sản xuất Matthew Vaughn chính thức bắt tay sản xuất cho “Người Hỏa Tiễn” thì Taron Egerton là cái tên bật ra đầu tiên và hội tụ đủ tư chất hoàn hảo nhất cho vai diễn này.

“Khi tôi nghe Taron Egerton hát, tôi lập tức đồng ý. Nếu ai đó đóng vai tôi, tôi cần biết chắc cậu ta phải hát được. Tôi muốn diễn viên thể hiện tôi không chỉ qua diễn xuất mà cả bằng âm nhạc. Tìm được một người như vậy cực kỳ khó. Và rồi chúng tôi gặp được Taron Egerton. Cậu ấy thực sự độc đáo và là người duy nhất có thể đảm nhiệm vai này”, Elton John chia sẻ.

Ý tưởng lựa chọn Egerton cũng được chính ngài Elton John đồng tình. Bởi có lẽ sẽ không có nam diễn viên trẻ nào tài năng và kinh nghiệm hơn Taron trong cả thể loại tiểu sử lẫn lĩnh vực âm nhạc. Với vai diễn “đo ni đóng giày” này, Taron Egerton đã nhận được rất nhiều lời tán dương và ca ngợi trong suốt hành trình quảng bá phim của mình. Người hâm mộ hy vọng rằng “Người Hỏa Tiễn” sẽ là tác phẩm bước ngoặt đưa chàng diễn viên trẻ chạm tay vào những giải thưởng cao quý nhất của làng điện ảnh.

Taron Egerton hứa hẹn sẽ là một cái tên vô cùng nặng ký khi tham gia “chinh chiến” tại các lễ trao giải danh giá nhất bộ môn nghệ thuật thứ 7 bằng vai diễn Elton John trong bộ phim tiểu sử về huyền thoại này.

“Người Hỏa Tiễn” dự kiến được khởi chiếu tại các rạp trên toàn quốc vào ngày 14.06.2019.

Sống lại với trang sử hào hùng cùng “Những cánh én đầu tiên”

Giải Trí

“Những cánh én đầu tiên” đã tái hiện lại một cách chân thực nhất trận chiến đấu có thật của Không quân nhân dân Việt Nam trước bối cảnh đế quốc Mỹ toan tính chia cắt chi viện hai miền Nam – Bắc. Bằng lòng dũng cảm và tình yêu Tổ quốc, các người lính trẻ tuổi đã đứng lên cùng với chiếc én bạc MiG-17 trang bị những quả pháo mãnh liệt để chống lại chiếc F-105 gồm tên lửa và bom của Mỹ.

Là một dự án phim điện ảnh 3D ngắn mang yếu tố phi lợi nhuận, “Những cánh én đầu tiên” ra đời với khát vọng tái hiện lại trận chiến trên Hàm Rồng ngày 04/4/1965 lịch sử.

Những trang sử về chiến thắng Hàm Rồng, Thanh Hóa năm 1965 như bản anh hùng ca vang mãi với thời gian, để tuổi trẻ hôm nay và mai sau có quyền tự hào về một thời oai hùng của dân tộc. Bằng tất cả tâm huyết, đội ngũ của Xưởng phim Én Bạc đã chắt lọc từng sự kiện và khung hình để tái hiện một cách rõ nét nhất thời khắc oanh liệt của các anh hùng trong những trận đánh lịch sử đầu tiên ở Hàm Rồng – cây cầu huyết mạch trên tuyến chi viện Bắc-Nam.

Biên đội tiêm kích ngày 04/4/1965 gồm:
– Trần Hanh, số 1 với máy bay số hiệu 2316
– Phạm Giấy, số 2 với máy bay số hiệu 2410
– Lê Minh Huân, số 3 với máy bay số hiệu 2412, và
– Trần Nguyên Năm, số 4 với máy bay số hiệu 2416.

Những ký ức lắng đọng về trận chiến thắng lẫy lừng ngày 04/4/1965 luôn gợi nhắc một giai đoạn “sống vì mọi người”, để mỗi lần lật lại từng trang sử, mỗi lần xem những thước phim mô phỏng lại ngày ấy, mỗi chúng ta sẽ không ngừng bồi hồi, xúc động. Bằng nỗ lực tìm hiểu và mong muốn tái hiện, ê-kíp làm phim đã góp phần giúp thế hệ hôm nay và ngày mai hiểu thêm về một cột mốc đáng chú ý, khơi gợi niềm tự hào và trân trọng những phút giây thiêng liêng của dân tộc.

“Những cánh én đầu tiên” dự kiến khởi chiếu trong năm 2019.