Phim chính sử – thể loại phim khiến khán giả truyền hình “điên đảo”

Giải Trí

Chẳng cần sáng tạo quá nhiều, những bộ phim khai thác chính sự kiện có thật trong lịch sử lại đang trở thành xu hướng mới trong ngành truyền hình.

Historical Drama (phim chính sử) là một thể loại không mấy xa lạ đối với những người đam mê phim ảnh. Những bộ phim thuộc thể loại chính sử luôn dựa trên những sự kiện có thật, bám sát thông tin được ghi chép trong lịch sử. Trong quá khứ, thể loại chính sử thịnh hành nhất đối với phim truyền hình chỉ có các series cổ trang về thời xưa, như “The Tudors”, “Reign”, “The Last Kingdom”, “Vikings” hay “Poldark”. Tuy nhiên tới những năm gần đây, một xu hướng mới đã nảy sinh trong thể loại chính sử và đạt được những thành công vượt trội, đó là phim chính sử về thời hiện đại.

Sự kiện nào cũng có thể thành phim, miễn là khai thác đúng con người

Năm 2016, sau khi đã đạt được nhiều danh tiếng với các series “American Horror Story”“Glee”, nhà sản xuất tài năng của kênh FX – Ryan Murphy đã thử sức với một series mới, thuộc thể loại chính sử và khai thác đề tài hình sự, có tên “American Crime Story” (Truyện Hình Sự Mỹ). Phần đầu tiên của series này, mang tên “The People v. O. J. Simpson” đã kể lại chi tiết và rất chuẩn xác một trong những vụ xét xử rùm beng nhất xã hội nước Mỹ – vụ xử tội danh thủ bóng bầu dục da màu O. J. Simpson vì tội sát hại vợ cũ năm 1995.

Mùa đầu tiên của “American Crime Story” đã tái hiện chân thực phiên tòa lịch sử nước Mỹ hơn 10 năm về trước

Ngoài đời, vụ án O. J. Simpson đã trở thành một hiện tượng đối với đại chúng Mỹ, được truyền hình trực tiếp để người dân cả nước ngày ngày theo dõi. Với một sự việc đã quá quen thuộc như vậy, tưởng như việc làm phim kể lại nó là điều không cần thiết. Nhưng thật ngạc nhiên, “The People v. O. J. Simpson” đã được khán giả đón nhận nhiệt tình, thu về vô số giải thưởng lớn của năm, thậm chí hâm nóng lại chính vụ án đã trôi qua hơn một thập kỷ trong lòng người xem. Có được điều này là vì Ryan Murphy đã rất khôn khéo khi xây dựng cốt truyện. Thay vì lần theo từng dấu mốc khô khan của vụ án, thì Ryan khai thác chính những con người theo đuổi phiên xét xử này: hai công tố viên, bộ sậu luật sư bào chữa,… cùng những vấn đề trong cuộc sống mà họ mắc phải trong thời gian đó. Chính cái nhìn mới mẻ này đã tạo cho “The People v. O. J. Simpson” sức hấp dẫn độc đáo, mà vẫn không hề xa rời sự thật.

Tại lễ trao Giải Primetime Emmy lần thứ 68, mùa phim đầu tiên nhận được 22 đề cử Emmy.

Không nằm ngoài xu hướng, một hãng truyền hình nổi tiếng khác là HBO gần đây cũng đã thử sức với thể loại chính sử với mini-series “Chernobyl” dài 5 tập. Bộ phim xoay quanh vụ nổ nhà máy điện nguyên tử ở Ukraine năm 1986, được coi là thảm họa hạt nhân tồi tệ nhất trong lịch sử nhân loại. Cũng như “American Crime Story” của FX, “Chernobyl” của HBO cũng có vô vàn tư liệu, hình ảnh thực tế phải bám sát. Nhưng bằng lối kể truyện đầy gay cấn, theo sát bước chân những người gây ra thảm họa, các nạn nhân của nó, cho tới những viên chức, nhà khoa học được cử đi khắc phục sự cố… vụ nổ Chernobyl đã hiện lên sống động hơn bao giờ hết. Chỉ sau 5 tập phim, “Chernobyl” của HBO đã gây sốt đến mức tại bên kia địa cầu, nước Nga – nơi từng xử lý vụ việc này hơn 30 năm trước – cũng không ngừng đưa tin và bình luận về series này.

“Chernobyl” đạt điểm số cực kỳ cao trên IMDb (9,6/10) sau khi trình làng.

Càng gần với lịch sử, càng được người xem hoan nghênh

Một trong những lợi thế của phim chính sử là rất nhiều hình ảnh, bằng chứng để dựa vào khi xây dựng series, thay vì phải viết kịch bản hoàn toàn mới như các thể loại khác. Cùng với đó, khán giả khi xem các series này cũng có thú vui độc đáo là tìm kiếm tư liệu thực, đối chiếu với các chi tiết trong phim để xem bộ phim “thật” đến bao nhiêu.

Năm 2017, Ryan Murphy, tác giả của “American Crime Story” tiếp tục ra mắt một series chính sử khác mang tên “Feud” (Thâm Thù). Nội dung mỗi mùa của “Feud” đều xoay quanh hai người nổi tiếng ghét cay ghét đắng nhau trong quá khứ. Và ở season 1, đối tượng của “Feud” là hai nữ minh tinh huyền thoại của màn bạc Hollywood thế kỷ 20 – Joan Crawford và Bette Davis. Trái qua mỗi tập phim, người xem lại rùng mình khi từng cảnh phim được tái hiện y như hình ảnh lịch sử được ghi lại: từ cử chỉ của diễn viên khi đóng phim, tới trang phục của các ngôi sao khi đi dự lễ trao giải,.. Tất cả những chi tiết được tái hiện chính xác tột cùng ấy vừa nâng cao giá trị cho series, lại càng khiến khán giả đổ nhiều tâm huyết hơn khi xem phim.

Mùa đầu tiên, “Feud” tái hiện chân thật lại những thù hận tai tiếng của Joan Crawford và Bette Davis

Tương tự, series chính sử hoành tráng “The Crown” của hãng Netflix cũng khai thác thời trẻ của nữ hoàng Elizabeth Đệ Nhị. Khi xem phim, khán giả luôn phải há miệng trầm trồ khi những gian phòng lộng lẫy của điện Buckingham, hay những trang phục, phụ kiện xa hoa của hoàng gia Anh đều được Netflix đầu tư phục dựng không khác gì đời thực. Những sự kiện được tường thuật trong “The Crown” cũng sát với thực tế đến mức chính bản thân nữ hoàng Elizabeth – tâm điểm của bộ phim cũng phải công nhận. Mới đây, Olivia Colman, người thủ vai Elizabeth trong season 3 của “The Crown” đã được chính Elizabeth phong tước, một vinh dự đồng thời là lời khen của nữ hoàng đối với series này.

Những câu chuyện đằng sau ngai vàng của Nữ hoàng được tái hiện sống động qua những thước phim của “The Crown”

Phim chính sử vừa không đòi hỏi phải sáng tạo nên câu chuyện mới, vừa cho nhà sản xuất và khán giả có cơ hội đào sâu thêm về những con người, mảnh đời từng làm nên lịch sử. Một series chính sử xuất sắc có thể khiến người xem tìm hiểu lịch sử hiệu quả hơn cả sách giáo khoa trên lớp. Vậy nên việc thể loại này trở thành xu hướng, được nhiều hãng phim lớn đua nhau thực hiện là tín hiệu rất đáng mừng của ngành truyền hình thế giới.

Bài: Tuấn Vũ

18/06/2019, 01:00

Những bộ phim khiến chúng ta nhận ra mỗi ông bố là một người hùng

Giải Trí

Đằng sau vẻ nghiêm nghị, khó tính và kiệm lời của cha là cả tấm lòng yêu thương con vô bờ mà không từ ngữ nào diễn tả được. Hình tượng các ông bố cũng được khai thác cực kỳ cảm động trên màn ảnh rộng. Hãy cùng Đẹp Online điểm qua những bộ phim về tình phụ tử mà bạn có thể xem đi xem lại nhiều lần mà vẫn không cảm thấy chán. 

“The Kid” (1921): bộ phim về tình cha con hay nhất của kỷ nguyên phim câm

Đây là tác phẩm điện ảnh đầu tiên của “vua hề” Charlie Chaplin – người đã khiến khán giả xúc động với câu chuyện nhân văn về một “gã lang thang” cố gắng bảo vệ đứa con nuôi khỏi trại trẻ mồ côi.

“The Kid” là một trong những bộ phim tuyệt vời của Charlie Chaplin

Charlie vào vai anh chàng lang thang “The Tramp” vụng về cố gắng xoay xở bằng mọi cách với mong muốn nuôi dạy đứa bé trở thành một người tử tế, biết cách tn ti trong xã hi khi không có gia đình. Những phân cảnh hành động phạm pháp của “vua hề Sác Lô” để kiếm thức ăn nuôi con mang lại tiếng cười cho khán giả, nhưng phần nào cũng cho thấy bi kịch của con người trong xã hội.

Bên cạnh những giây phút hài hước, “The Kid” còn chứa đựng nhiều khoảnh khắc xúc động. Dù không cùng huyết thống nhưng chính lòng yêu thương chân thành của hai nhân vật đã tăng thêm giá trị thông điệp của tác phẩm. Cũng giống như dòng chữ giới thiệu bộ phim mà chính Charlie gửi gắm: “Một bộ phim với một nụ cười và có lẽ, một giọt nước mắt”.

“Kramer vs Kramer” (1979): tình cảm cha con là điều thiêng liêng nhất

Ra mắt vào thập niên 1970, “Kramer vs. Kramer” là một bộ phim thách thức những định kiến bấy giờ về vai trò, vị trí của đàn ông và phụ nữ trong gia đình. Trước đây, nếu xảy ra một vụ ly di, chắc chắn, đứa con sẽ được mẹ chăm sóc, người cha chỉ có nhiệm vụ chu cấp mỗi tháng. Nhưng “Kramer vs. Kramer” thì khẳng định rằng: đàn ông cũng có thể chăm sóc cho con cái chu đáo chẳng thua gì phụ nữ.

Sức sống của “Kramer vs Kramer” mãi trường tồn vì những bài học về giá trị của tình cảm cha con, gia đình mà bộ phim mang lại

Chuyện phim kể về hành trình “học làm bố” của Ted Kramer (Dustin Hoffman), người đàn ông yêu công việc hơn gia đình. Bỗng một ngày, Joanna, vợ anh đột ngột đòi ly hôn. Cô để lại cậu con trai Billy 5 tuổi cho Ted chăm sóc.

Ted không phải là người cha lý tưởng. Anh vụng về trong mọi thứ: đánh rơi cả vỏ trứng vào bát, đi siêu thị nhưng không biết mua đồ gì hay thậm chí không nhớ nổi con trai mình đang học lớp mấy… Tuy nhiên, tình yêu dành cho con đã dạy anh cách trở thành một người cha thực thụ.  Anh bắt đầu biết dành thời gian trò chuyện, chia sẻ với con trai, dạy con tập xe đạp,… Sự tận tuỵ của một người cha đã khiến Ted bị sa thải. Nhưng anh cũng học được rằng, tình cảm cha con mới là thứ đáng giá, thiêng liêng nhất.

Bộ phim đã giành đến 5 giải Oscar 1980 ở những hạng mục quan trọng như đạo diễn, kịch bản chuyển thể, nam chính, nữ phụ và phim xuất sắc nhất.

Nhưng lúc Ted đã ổn định cuộc sống cùng Billy thì cũng là lúc Joanna, vợ cũ của anh quay về giành quyền giám hộ đứa bé. Như một bản năng của người bố, Ted vùng lên chiến đấu để được ở cạnh con trai.

“Big Fish” (2003): tình cha con được dệt lên từ những câu chuyện cổ tích

“Big Fish” là bộ phim về tình cha con được đạo diễn Tim Burton thực hiện sau khi cả cha và mẹ ông qua đời trước đó. Tác phẩm đạt doanh thu 122,9 triệu USD và nhận bốn đề cử Quả Cầu Vàng, đặc biệt là “Phim hài/nhạc kịch xuất sắc”. “Big Fish” được xem là một trong những tác phẩm thành công nhất của Tim Burton.

“Big Fish” là một câu chuyện giàu trí tưởng tượng dựa trên tình phụ tử

Nhân vật chính của bộ phim là cậu con trai William. Suốt tuổi thơ của mình, William đã được nghe người cha Edward Bloom kể về chuyến phiêu lưu thời trẻ vừa thực vừa ảo của ông. Trong những câu chuyện ấy luôn hiện hữu các nhân vật phi thường như người khổng lồ, phù thủy, người sói,…

Khi trưởng thành, Will không còn tin vào những lời kể ấy và cho rằng tất cả chỉ là bịa đặt. Mãi đến khi biết tin cha sắp qua đời, anh mới quyết tâm tìm hiểu sự thật đằng sau câu chuyện huyền bí ấy để rồi William bị cuốn vào chuyến du hành đặc sắc.

 

“Finding Nemo (2003): hãy yêu thương con cái đúng cách

Là một trong những phim hoạt hình kinh điển của hãng Disney, “Finding Nemo” là hành trình tuyệt vời, khắc họa tình cảm cha con đầy thiêng liêng.

Marlin chính là hình mẫu để các bậc phụ huynh có cái nhìn đúng đắn hơn về cách dạy con: chăm sóc con quá kỹ lưỡng khiến đứa trẻ dần trở nên tự ti, không thể bảo vệ nỗi chính mình.

Tận sâu dưới đáy đại dương là gia đình nhỏ của cá hề Nemo. Vì mồ côi mẹ từ nhỏ, nên Nemo luôn được bố Marlin yêu thương và hết mực chăm sóc. Chính vì nỗi sợ hãi trong lòng mà Marlin trở nên dè dặt, khô khan, bảo vệ Nemo tới mức cực đoan.

Và khi Nemo lạc đến bên kia của đại dương, Marlin đã quyết tâm lên đường tìm kiếm con trai dẫu không hề có bất kỳ manh mối nào. Những khoảnh khắc Marlin vùng vẫy chiến đấu với cá mập, hay cố gắng vượt qua đàn sứa độc đã để tìm Nemo khiến người xem không khỏi xúc động.

“Miracle In Cell No.7” (2013): bản giao hưởng nhẹ nhàng của tình cha con nơi phòng giam ảm đạm

Bộ phim từng lấy không ít nước mắt khán giả Hàn Quốc lẫn Việt Nam khi được ra mắt. Câu chuyện cảm động về người cha thiểu năng và cô con gái nhỏ tuổi nhưng thông minh nơi phòng giam mang đến cho người xem những khoảnh khắc hài hước pha lẫn nước mắt. “Miracle In Cell No.7” khiến chúng ta nhận ra rằng, dẫu trong bất kỳ hoàn cảnh nào các ông bố vẫn luôn bảo vệ những đứa con bằng mọi giá, kể cả có phải đánh đổi bằng chính sinh mạng của mình.

Bộ phim là một bài ca đẹp về tình người, tình phụ tử

“Train to Busan” (2016): vì con, cha có thể làm tất cả!

Seo Wook được mô tả là người đàn ông của công việc khi phần lớn thời gian chỉ để nghiên cứu làm sao hoàn thành chỉ tiêu của công ty thay vì chăm sóc gia đình nhỏ. Chính vì thế mà khoảng cách của anh và cô con gái nhỏ Su An ngày càng lớn. Để bù đắp cho con gái, Seo Wook đưa Su An về thăm mẹ ở Busan mà không hề biết rằng, chờ đón họ trên chuyến tàu ấy là binh đoàn zombie khát máu sẵn sàng tấn công bất kỳ ai mà chúng thấy.

Không chỉ là bộ phim Zombie đơn thuần, “Train to Busan” còn khắc hoạc rõ nét tình cảm cha con lúc sinh tử.

Thời khắc sinh tử đã kéo hai cho con lại gần nhau hơn và giúp Seo Wook hiểu ra rằng anh đã quá lãng phí thời gian cho tiền bạc, công việc mà bỏ rơi gia đình lẫn Su An. Đến cuối cùng để bù đắp cho sự vô tâm hời hợt trước đây, và trên hết là để con gái được sống một đời bình an, Seo Wook đã quyết định dùng sinh mạng đối đầu với zombie.

“Thần đồng diễn xuất” Dakota đang ở đâu trong khi em gái Elle Fanning nổi như cồn?

Giải Trí

Không hiểu vì lý do gì, Dakota Fanning bỗng dưng chìm nghỉm trên màn ảnh rộng, nhường hào quang cho em gái Elle Fanning giờ đây đang ngày một nổi như cồn.

su nghiep cua dakota fanning
Dakota Fanning từng được kỳ vọng trở thành đại diện của thế hệ nữ diễn viên trẻ tài năng tại Hollywood.

Tuổi thơ rực rỡ của Dakota Fanning

Dakota Fanning (tên đầy đủ là Hannah Dakota Fanning) sinh năm 1994, cô sớm được biết đến là “tiểu mỹ nhân Hollywood” sau vai diễn nổi tiếng trong “I Am Sam” (2001). Từ năm lên ba, Dakota đã biết đọc và sớm bộc lộ tư chất thông minh cùng niềm say mê diễn xuất. Mọi người xung quanh khuyên bố mẹ cô nên tìm đến chuyên gia tìm kiếm tài năng để phát triển tiềm năng của Dakota. Quả nhiên, chỉ sau bộ phim “I Am Sam”, nữ diễn viên 7 tuổi khi ấy trở thành ngôi sao nhí được săn đón bậc nhất.

su nghiep cua dakota fanning
Ngày nhỏ, Dakota Fanning được các nhà làm phim Hollywood săn đón nhờ nhan sắc tựa thiên thần cùng với sự thông minh, nhanh nhạy.

Dakota thẳng bước đến với vai diễn Abby Jenning trong “Trapped” (2002), hóa thân thành Reese Witherspoon lúc nhỏ ở “Sweet Home Alabama” (2002). Ngôi sao nhí cũng khiến khán giả ngỡ ngàng khi dễ dàng tường thuật bộ phim khoa học “Taken” (2002) của đạo diễn Steven Spielberg và đảm nhận vai diễn chính nặng ký trong các tác phẩm đa dạng về thể loại như “The Cat in the Hat” (2003), phim hài lãng mạn “Uptown Girls” (2003), lồng tiếng cho “Kim Possible: A Sitch in Time“…

Lên 10 tuổi, sự nghiệp của ngôi sao Dakota Fanning bắt đầu có những bước chuyển ấn tượng hơn. Cô liên tục xuất hiện cùng những ngôi sao lớn như Denzel Washington trong tác phẩm bạo lực, ly kỳ “Man on Fire” (2004), hay Robert De Niro ở bộ phim lạnh gáy “Hide and Seek” (2005). Trong “War of the World” (2005) – tác phẩm của Tom Cruise nhận được 75% đánh giá tích cực từ các chuyên gia trên trang tổng hợp bình luận Rotten Tomatoes, Dakota cho thấy bước tiến dài về diễn xuất.

su nghiep cua dakota fanning
Nữ diễn viên nhí không còn chỉ thu hút bằng vẻ ngoài đáng yêu, tự nhiên mà còn khẳng định thực lực bằng các trường đoạn bộc lộ cảm xúc.

Thời điểm đó, Dakota Fanning với mác “thần đồng Hollywood” được khẳng định chắc nịch sẽ có con đường sự nghiệp rộng thênh thang trong tương lai. Những vai diễn lớn nối nhau ra rạp của Dakota như “New Moon” (2019), “Eclipse” (2010), hai phần “Breaking Dawn” (2011-2012), “Celia” (2012)… càng làm khán giả tin tưởng hơn về triển vọng sự nghiệp của người đẹp sinh năm 1994. Trong khi ấy, Elle Fanning, người cũng đang rất cố gắng với “Babel“, “The Curious Case of Benjamin Button” chỉ được khán giả nhớ đến với danh xưng “em gái của Dakota Fanning”.

Hào quang thuộc về em gái, “thần đồng Hollywood” một thời có khả năng trở lại?

Những tưởng rằng sẽ trở thành nàng thơ nổi tiếng bậc nhất Hollywood, Dakota bỗng nhiên im bặt trên màn ảnh suốt 6 năm trở lại đây. Khán giả đại chúng không còn thấy cái tên sáng chói một thời trong các dự án lớn, mà chỉ thỉnh thoáng thấy ngôi sao “I Am Sam” xuất hiện ở các sự kiện cùng em gái Elle Fanning. So với em gái kém mình 4 tuổi, Dakota không chỉ ngày một kém sắc hơn mà còn lu mờ về sự nghiệp diễn xuất. Các tác phẩm có sự tham gia của cô vẫn được ra mắt thường xuyên, nhưng đa phần đều bị đánh giá tệ hại, nhạt nhoà và đáng quên. 

su nghiep dakota fanning
Hiệu ứng thảm đỏ của Dakota Fanning hoàn toàn chìm nghỉm so với cô em gái Elle Fanning.

Ngược lại, Elle ngày càng vượt trội chị gái về cả ngoại hình lẫn danh tiếng, nữ diễn viên 21 tuổi chinh phục khán giả bằng vẻ đẹp khi thì ngọt ngào với công chúa Aurora trong bom tấn “Maleficent” (2014), khi thì nổi loạn ở bộ phim “The Neon Demon” của đạo diễn Nicolas Winding Refn. Trong vòng hai năm từ 2017 đến 2018, cô nàng góp mặt trong 10 tác phẩm. Đến nửa đầu năm 2019, cái tên Elle Fanning một lần nữa phủ sóng khắp các mặt báo giải trí lẫn thời trang nhờ vai trò “nữ giám khảo trẻ tuổi nhất lịch sử liên hoan phim Cannes” cùng phong cách thời trang đẳng cấp.

su nghiep dakota fanning
Vai diễn công chúa Aurora đưa tên tuổi Elle đến đông đảo khán giả toàn cầu.

Chia sẻ với tạp chí Marie Claire, Dakota Fanning từng thừa nhận cặp đôi chị em nhà Fanning gặp vấn đề khi không thể gắn kết ở tuổi vị thành niên. Cả hai không biết phải làm gì và thậm chí chẳng nói chuyện với nhau hàng năm trời. Đây đồng thời cũng là khoảng thời gian Dakota vắng bóng trên màn ảnh còn em gái Elle thì lăn xả hết mình để tỏa sáng. 

su nghiep Dakota Fanning
Dakota sẽ tái xuất màn ảnh trong dự án đóng cặp cùng Brad Pitt và Leonardo DiCaprio.

Liệu 6 năm đã đủ để Dakota Fanning tái xuất? Nữ diễn viên cho biết hiện tại, cô đang tích cực chia sẻ với em gái hơn về đời tư lẫn công việc. Trên đường đua diễn xuất, Dakota Fanning có lẽ cũng đã sẵn sàng để trở lại cùng “công chúa Aurora” Elle. Trong khi “Maleficent 2” của Angelina Jolie đang rục rịch ra rạp vào mùa thu năm nay, thì Dakota sẽ sớm tái xuất với hai đàn anh Brad Pitt và Leonardo DiCaprio ở tác phẩm “Once Upon A Time In Hollywood” vào tháng 7 này. 

Trên thực tế, khán giả đại chúng trông đợi sự tỏa sáng (hoặc có thể là cạnh tranh) của cặp chị em nhà Fanning, hơn là chỉ có một trong hai phải xuất hiện với mác “em gái Dakota Fanning” hay “chị gái Elle Fanning”. Bởi không giống các cặp chị em khác, cả Dakota lẫn Elle Fanning đều sở hữu ngoại hình và tài năng diễn xuất bẩm sinh xứng đáng trở thành đại diện tiêu biểu cho lớp diễn viên thực lực hiện nay ở Hollywood.

Thất vọng vì “Game of Thrones”? Xem ngay những series đỉnh cao khác của HBO

Giải Trí

Dù series chủ lực suốt những năm qua là “Game of Thrones” vừa khép lại, nhưng hãng truyền hình HBO vẫn không hề có dấu hiệu giảm nhiệt nhờ những cái tên sau đây.

Kể từ khi ra mắt vào năm 2011, series truyền hình “Game of Thrones” (tên Việt: Trò Chơi Vương Quyền) do hãng HBO sản xuất đã trở thành hiện tượng trên màn ảnh nhỏ. Với cốt truyện phong phú, phức tạp, cùng những cảnh phim được quay cực kỳ hoành tráng và kỳ công, “Game of Thrones” đã phá bỏ định kiến rằng phim truyền hình chỉ là thể loại ít kinh phí, không cần đầu tư. Tới nay, dù series này đã khép lại sau 8 season, nhưng nó đã trở thành ngọn cờ đầu cho một loạt series được đầu tư hoành tráng khác bởi HBO, sẵn sàng thế chỗ “Game of Thrones” trên màn ảnh nhỏ.

“Chernobyl” – tuyệt phẩm về thảm họa hạt nhân 1986

phim truyen hinh HBO
Series phim sở hữu đến 9.7 điểm trên IMDb.

Trong hàng ngũ phim truyền hình của hãng HBO, “Chernobyl” chắc chắn đang là cái tên nhận được nhiều sự chú ý nhất hiện nay. Là một mini-series gồm 5 tập, “Chernobyl” là phim chính sử xoay quanh thảm họa hạt nhân tồi tệ nhất trong lịch sử loài người, xảy ra ở nhà máy điện nguyên tử Chernobyl, Ukraina năm 1986. Qua bàn tay nhào nặn tài tình cùng diễn xuất tuyệt vời của dàn diễn viên, vụ nổ hạt nhân gây đại họa cho toàn châu Âu đã hiện lên đầy chân thực, nhức nhối và không thể ấn tượng hơn.

Chernobyl” hiện đã ra mắt 4 tập, và chỉ còn một tập cuối cùng sẽ lên sóng vào tuần sau. Nhưng chỉ trong vài tuần ngắn ngủi đó, nó đã vượt lên hàng loạt tên tuổi lớn như huyền thoại “Breaking Bad“, lẫn người anh cùng nhà “Game of Thrones” để đứng đầu bảng xếp hạng phim truyền hình của chuyên trang IMDb. Sau kết thúc gây tranh cãi của “Game of Thrones“, “Chernobyl” đã góp phần khẳng định lại đẳng cấp phim truyền hình của HBO đối với người hâm mộ.

“Big Little Lies” – series đình đám về các bà nội trợ 

phim truyen hinh HBO
“Big Little Lies” gây ấn tượng bởi danh tiếng của dàn diễn viên.

Chỉ tính riêng về danh tiếng của các diễn viên trong phim thì “Big Little Lies” (Tạm dịch: Lời Nói Dối Vặt Lớn Lao) đã đủ đánh bay hầu hết các series truyền hình khác hiện nay. Dẫn đầu dàn diễn viên của phim là hai sao nữ hạng A đình đám ở Hollywood – Nicole Kidman và Reese Witherspoon, cùng nhiều cái tên sáng giá khác như Laura Dern, Zoe Kravitz,… Bên cạnh đó, series này còn gây tiếng vang với nước phim đẹp như tranh vẽ, cùng nội dung sâu sắc xoay quanh cuộc sống của người phụ nữ, bạo lực gia đình, giáo dục trẻ nhỏ…

Big Little Lies” vốn chỉ được sản xuất dưới dạng mini-series (gồm một mùa duy nhất). Tuy nhiên, thành công vang dội của series này tại các lễ trao giải lớn đã khiến hãng HBO đốc thúc sản xuất mùa thứ hai. Bên cạnh sự trở lại của đầy đủ dàn sao từ season 1, “Big Little Lies” mùa mới sẽ đón chào thêm một tượng đài khác ở Hollywood – Meryl Streep. Tập đầu tiên của mùa 2 sẽ lên sóng vào ngày 9/6 sắp tới, ngay sau khi “Game of Thrones” và “Chernobyl” khép lại.

“Watchmen” – “con bài át chủ lực” của HBO năm 2019 

phim của HBO
“Watchmen” sở hữu lượng khán giả vô dùng lớn nhờ thành công của bộ phim điện ảnh.

Nếu là người hâm mộ của thể loại siêu anh hùng, chắc hẳn bạn sẽ quen thuộc với “Watchmen“. Đây là câu truyện cực kỳ nổi tiếng của hai tác giả Alan Moore và Dave Gibbons, đặt bối cảnh trong thời kỳ chiến tranh lạnh giữa Liên Xô và phương Tây, nơi các siêu anh hùng đóng vai trò quan trọng nhằm bảo vệ nhân loại khỏi cuộc chiến hạt nhân chết chóc. “Watchmen” đã đạt rất nhiều giải thưởng lớn và được chuyển thể thành phim điện ảnh vào năm 2009, đạo diễn bởi Zack Snyder.

Nhận thấy câu truyện Watchmen vẫn còn nhiều tiềm năng khổng lồ chưa khai thác hết, hãng HBO đã xúc tiến sản xuất một series mới cùng bối cảnh với thế giới trong tác phẩm này, với sự xuất hiện của nhiều nhân vật mới. “Watchmen” bản truyền hình dự kiến sẽ ra mắt vào mùa thu năm nay. Căn cứ vào sự đầu tư mạnh tay của nhà sản xuất, thì rất có thể người hâm mộ Watchmen phiên bản gốc sẽ có thêm một series đỉnh cao mới để chờ đón trong năm 2019.

“His Dark Materials” – phiên bản truyền hình đáng mong đời của “The Golden Compass

phim cua HBO
Đã 12 năm kể từ khi “The Golden Compass” ra mắt, khán giả sẽ được thưởng thức phần tiếp theo của câu chuyện với diện mạo hoàn toàn mới.

Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng là series do HBO hợp tác thực hiện cùng kênh BBC1 của Anh – “His Dark Materials” (Tựa Việt: Vật Chất Đen Tối Của Chúa). Dựa trên bộ tiểu thuyết cùng tên rất nổi tiếng của nhà văn Phillip Pullman, “His Dark Materials” lấy bối cảnh một thế giới song song giả tưởng, nơi linh hồn mỗi người không nằm trong thể xác mà hiện hữu dưới dạng thú vật bên cạnh họ. Trong thế giới ấy, một cô bé ngây thơ bất ngờ phải lãnh nhận trọng trách vô cùng quan trọng, liên quan tới vận mệnh của không chỉ một, mà vô vàn thế giới song song khác.

Tiểu thuyết gốc của “His Dark Materials” gồm 3 phần, và phần đầu tiên – “The Golden Compass” (Tựa Việt: “Chiếc La Bàn Vàng”) từng được chuyển thể thành phim điện ảnh năm 2007. Tuy nhiên, phiên bản này đã thất bại do không truyền tải được những yếu tố sâu sắc liên quan đến kinh thánh, triết học của nguyên tác. Lần này, HBO đã quyết định sản xuất “His Dark Materials” dưới dạng phim truyền hình dài tập, với các diễn viên thực lực nổi tiếng như James McAvoy, Daphne Keen nhằm chuyển thể toàn bộ nội dung lôi cuốn củ bộ tiểu thuyết gốc lên màn ảnh nhỏ. “His Dark Materials” dự kiến sẽ chính thức ra mắt vào cuối năm 2019.